Bảo Sanh viện Từ Dũ xưa - Ảnh: T.L |
Bản dịch cuốn Đại Nam thực lục chính biên viết: “Con thứ hai vua Hiến tổ Nhân Tông hoàng đế… Mẹ là Từ Dụ, Bác huệ Khang thọ Thái hoàng Thái hậu”. Còn sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược cho rằng: “Ngài thờ Đức Từ Dụ rất có hiếu” nhưng khi viết về vua Thiệu Trị hoặc nói về vua Tự Đức có nhắc đến bà thì lại ghi là Từ Dũ, mà không viết là Từ Dụ.
Tuy nhiên theo một số tư liệu, Thượng thư bộ Lễ Phạm Đăng Hưng, người gốc Gò Công (Nam bộ) có một người con gái tên Phạm Thị Hằng (Nguyệt), sinh ngày 18.5.1810 tại giồng Sơn Quy, H.Tân Hòa (Gò Công) thuộc Lục tỉnh Nam Kỳ. Chuyện dân gian ở Gò Công kể: Khi sanh bà Hằng thì nước giếng Sơn Quy trong vắt, lúc sử dụng thì ít bệnh tật nên nhiều người tới đây múc nước uống vào để chữa bệnh. Nước Gò Công vốn là nước mặn, nhưng giếng giồng Sơn Quy thì mỗi ngày càng cao lên như hình mai rùa, làm cây trái ở đây đơm bông kết trái tốt tươi hơn những nơi khác nên mới có câu tương truyền: “Lệ thủy trình trường thụy, Quy khâu trúc phúc cơ” (Tạm dịch: Nước đẹp dâng điềm lành/Gò Rùa xây nền phúc).
Thuở nhỏ, bà Hằng ham đọc sách và thông hiểu kinh sử, tính nết lại hiền đức, nết na nhưng người cha lại nghiêm khắc bắt buộc con gái phải học nữ công và làm việc lặt vặt trong nhà. Vì vậy, bà Hằng không được học nhiều, do đó chữ nghĩa chỉ ở dạng… đọc hiểu. Năm 12 tuổi, thân mẫu bị bệnh quá nặng nên bà chỉ ở nhà ngày đêm săn sóc cơm cháo cho tới khi thân mẫu mất. Đến năm Hoàng đế Minh Mạng thứ 4 (1823) thân phụ của bà là Phạm Đăng Hưng cũng tạ thế, linh cữu được an táng tại quê nhà.
Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ ngày nay - Ảnh: L.C.S |
Bà Từ Dụ - Ảnh: T.L |


Tìm tới
Trang bình luận
/ 1
Muốn biết công ơn thì phải đọc thêm tư liệu lịch sử khác...