Chưa kiểm soát được tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh



Chủ nhật, 21/09/2014 - 02:11 AM (GMT+7)




Năm 2009, Tổng cục Dân số đã triển khai thí điểm Ðề án can thiệp, giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh ở 10 tỉnh, thành phố có tỷ số chênh lệch giới tính cao nhất. Tuy nhiên, sau hơn bốn năm, ngành dân số phải thừa nhận không kiểm soát được tốc độ chênh lệch giới tính đang diễn ra ngày càng cao. Và tỷ số chênh lệch giới tính vẫn là 114 bé trai/100 bé gái.



Không đạt mục tiêu đề ra



Từ năm 2006 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh của nước ta tăng hằng năm và luôn ở mức hơn 110 bé trai/100 bé gái. Mặc dù đã cố gắng khống chế tốc độ gia tăng bằng một loạt biện pháp, nhưng tỷ số mất cân bằng giới tính vẫn còn rất cao. Theo báo cáo của Tổng cục DS - KHHGÐ, trong 6 tháng đầu năm 2014, tỷ số giới tính khi sinh (số bé trai/100 bé gái) cả nước là 114, cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái 3,8% (110,6). Các tỉnh, thành phố có giới tính khi sinh cao hơn 115 vẫn là: Lai Châu, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Quảng Ngãi, Khánh Hòa... Theo Tổng cục trưởng Dân số Dương Quốc Trọng, nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý muốn có con trai nối dõi tông đường đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, các cặp vợ chồng, gia đình và dòng họ. Bên cạnh đó, những chuẩn mực xã hội mới như gia đình quy mô nhỏ, mỗi gia đình chỉ có từ một đến hai con cũng tạo áp lực đối với các cặp vợ chồng bằng mọi cách phải có con trai.


Ở khu vực đô thị, nhiều gia đình trí thức, kinh tế khá giả nhưng luôn có tâm lý phải sinh con trai, do vậy họ lựa chọn giới tính khi sinh bằng nhiều phương pháp y tế hiện đại và cũng dễ dàng bỏ thai nếu giới tính là nữ. Mặc dù đã có nhiều quy định, cấm và xử phạt nghiêm việc chẩn đoán giới tính trước khi sinh, nhưng việc phát hiện và xử phạt vi phạm không dễ dàng, các trung tâm y tế vẫn cố tình vi phạm.


Còn ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, một số gia đình không có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại thì cứ sinh con, đến khi được con trai mới thôi.


Các chuyên gia cho rằng, nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời, tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ tăng lên khoảng 125 bé trai/100 bé gái vào năm 2020 và tiếp tục duy trì ở mức này cho tới năm 2050. Vô hình trung, đến năm 2050, nước ta sẽ dư thừa hơn bốn triệu nam giới và sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó lường. Thiếu phụ nữ sẽ làm gia tăng áp lực buộc trẻ em gái phải kết hôn sớm hơn và có thể bỏ học để lập gia đình. Tình trạng này còn có thể làm gia tăng mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em gái, hôn nhân vụ lợi và tội phạm tình dục... Về lâu dài, sự thiếu hụt phụ nữ dẫn tới sự suy giảm tỷ lệ sinh và xa hơn là giảm tổng dân số cũng như nhóm người trong độ tuổi lao động, dẫn tới quá trình già hóa dân số diễn ra sớm hơn.


Mặt khác, 70% số dân nước ta còn sống ở nông thôn, hầu hết không có lương hưu khi về già, rất cần sự chăm sóc, phụng dưỡng của con cái mà theo quan niệm của xã hội, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai, vì thế họ sẽ cảm thấy bất an khi chưa có con trai. Dường như những nỗ lực của toàn xã hội chưa đủ sức mạnh để thay đổi tập quán, thói quen, hành vi thích sinh con trai của người dân. Nếu trong thời gian tới, chúng ta không làm quyết liệt vấn đề này thì sẽ dẫn tới những hệ lụy khó lường về mặt xã hội, khi các thế hệ trẻ em sinh ra hôm nay bước vào độ tuổi kết hôn. Một bộ phận nam giới có thể sẽ phải kết hôn muộn và nhiều người trong số họ không có khả năng kết hôn.


Phải có giải pháp triệt để


Tại Hội nghị sơ kết công tác sáu tháng đầu năm 2014 của ngành dân số, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến cho rằng: Ðể từng bước khống chế tốc độ gia tăng tỷ số mất cân bằng giới tính khi sinh và tiến tới trở về mức cân bằng tự nhiên, cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt hơn nữa. Trong nhiều năm qua, với chức năng, quyền hạn của mình, ngành dân số đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt, song những nỗ lực đó vẫn là chưa đủ, chưa khống chế được tốc độ tỷ số giới tính khi sinh. Trên thực tế, nếu không có sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn xã hội ngay từ bây giờ, thì e rằng, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước và giống nòi của dân tộc. Cần phải tuyên truyền đột phá, mạnh hơn nữa để có thể thay đổi được tư tưởng, nhận thức của người dân về quan niệm có con trai nối dõi tông đường. Theo đó, có thể can thiệp thay đổi tâm lý ưa thích con trai thông qua việc khuyến khích con gái cũng có thể nối dõi tông đường và thờ cúng tổ tiên; cha mẹ già có thể sống với con gái. Cùng với đó cần tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia nhiều hơn trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm; thành lập quỹ dành riêng cho trẻ em gái. Hoạt động truyền thông cần linh hoạt trong cách tiếp cận và thông điệp phù hợp với từng nhóm đối tượng, không chỉ đối với những cặp vợ chồng trẻ mà phải bao gồm cả những bậc cao niên...


Kiểm soát và xử lý nghiêm hành vi lựa chọn và tiếp tay cho việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức cũng là điều cần được tăng cường. Trên thực tế, các chế tài xử lý các hành vi vi phạm đã được ban hành như Nghị định 104/2003/NÐ-CP đã có quy định nghiêm cấm các hành vi: thông báo cho sản phụ biết giới tính thai nhi qua bắt mạch, siêu âm; loại bỏ thai nhi vì giới tính... Nghị định 114/2006/NÐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính dân số và trẻ em có quy định mức phạt tối đa cho tất cả các hành vi vi phạm về bình đẳng giới là 40 triệu đồng... Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng mức phạt như vậy chưa đủ nghiêm để răn đe những đối tượng có hành vi vi phạm, và để hạn chế tình trạng này cần thưởng phạt nghiêm minh, đi đôi với nâng cao trách nhiệm và y đức của người thầy thuốc đối với thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.





THANH MAI