Có 03 cách tiếp cận định giá chứng khóan thì PE là một phương pháp trong cách tiếp cận thứ 3 – Phương pháp hệ số (Multiple Approach). PE là viết tắt của chỉ số THỊ GIÁ CHỨNG KHOÁN/THU NHẬP CỦA CỔ PHIẾU trong kỳ. PE cho biết nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu tiền cho 1 đồng lợi nhuận mà công ty làm ra. PE được tính trong một thời kỳ dài nhằm đưa ra mức PE được chấp nhận chung của một ngành và từ đó để xem xét một cổ phiếu có giá đắt hay rẻ hơn so với mặt bằng chung của ngành, của nhóm cổ phiếu tương đương. Trong một nền kinh tế ổn định, PE thường được chấp nhận = 1/ Lãi suất trái phiếu 10 năm của chính phủ. Ví dụ lãi suất 10 năm của chính phủ là 10%/năm thì mức PE thường được chấp nhận chung trên thị trường là 1/10% = 10. Cao hơn mức này tức là “đắt” hơn thị trường và thấp hơn mức này tức là “rẻ” hơn thị trường. Ở Việt nam lãi suất 10 năm của TPCP thường không ổn định, ta có thể lấy lãi suất cơ bản từng thời kỳ làm tham chiếu để tính mức PE mà thị trường có thể chấp nhận được. Chính vì vậy, khi LSCB tăng thì PE thường phải giảm tương ứng -> TT sẽ điều chỉnh giảm và ngược lại khi LSCB giảm thì PE thường tăng tương ứng -> TT sẽ tăng trong ngắn hạn. PE thay đổi hàng ngày thậm chí là từng giây (trong phiên giao dịch) chính vì vậy mà nó dễ bị thao túng theo mục đích chủ quan của 1 nhóm người đồng thời không phải lúc nào cũng phản ánh được quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và giá cổ phiếu. Trong thực tế, PE chỉ nên được dùng như phương pháp lọc nhanh các cổ phiếu để có thể từ đó khu trú phạm vi quan tâm, theo dõi để quá trình kinh doanh có thể hiệu quả hơn.

