Mình post lại bài này ở đây vì thấy có lẽ đặc biệt hợp với ai mới làm cha mẹ (psychologically correct ;)).


BS William Sears nói về việc đứa con thứ tư đã dạy họ trở thành bố mẹ tốt như thế nào.


W.Sears là biên tập viên cộng tác của tạp chí Parenting/BabyTalk


Cho đến trước khi sinh bé thứ tư, tôi và Martha đã thực sự nghĩ rằng chúng tôi biết mọi điều cần thiết để làm bố làm mẹ tốt. Xét cho cùng thì chúng tôi chả đã nuôi dạy ba cậu con trai, rất dễ nhận biết những đòi hỏi của chúng, và đáp ứng một cách thích hợp. Thực tế là tôi đã bắt đầu nghi ngờ rằng những bậc cha mẹ đến gặp tôi (tôi là bác sĩ nhi) đã quá cường điệu khi than phiền về con cái họ tính khí thất thường, hay nhõng nhẽo, đòi hỏi.


Thế rồi chúng tôi có bé Hayden. Với bé, việc làm cha làm mẹ của chúng tôi đảo lộn hết cả. Nếu bé không luôn được bế hay cho bú thì bé lại khóc. Chúng tôi đã thử mọi ngón nghề cũ, nhưng chẳng ăn thua gì. “Tôi không thể đặt bé xuống được” trở thành câu cửa miệng của Martha. Rõ ràng là cô bé con này để cảm thấy vui vẻ luôn cần sự quan tâm thường trực. Điều này không hợp với phong cách nuôi dạy con trước đây của chúng tôi. Bằng cách buộc chúng tôi phải đánh giá và định hướng lại quan niệm về nuôi dạy con, Hayden đã dạy cho chúng tôi thực sự thế nào là làm cha mẹ. Và tất cả nằm trong tám quy tắc vàng này.


1. ĐÁP ỨNG MỘT CÁCH PHÓNG KHOÁNG


Như nhiều bậc cha mẹ, chúng tôi luôn ám ảnh nỗi lo làm hư con cái. Nhưng chỉ đến khi có bé Hayden chúng tôi mới thực sự gặp thử thách này. Bé rất cần nhiều sự quan tâm hơn bất kỳ một đứa anh nào của bé, và chúng tôi lo rằng bé có lẽ đang giở mánh khoé với chúng tôi. Liệu có phải chúng tôi đang dần mất đi quyền tự chủ mỗi khi phải bế bé lên hoặc đáp ứng khi bé khóc? Chúng tôi tra cứu sách vở - một việc làm thật vô ích. Chả có chương nào nói về trường hợp như bé. Vậy mà, có chúng tôi đây, hai người lớn đầy kinh nghiệm có cuộc sống bị điều khiển bởi một đứa trẻ nặng 10 pound.


Cuối cùng chúng tôi nhận ra rằng Hayden biết bé cần gì và bé cứ tiếp tục diễn đạt cho đến khi chúng tôi hiểu ra. Bé còn quá nhỏ để biết dùng mánh khoé gì với chúng tôi – bé chỉ đang cố gắng để bày tỏ. Bằng cách thường xuyên đáp ứng bé, chúng tôi học được cách dỗ dành và xoa dịu bé, và điều quan trọng nhất, chúng tôi đã tạo lập cho bé cảm giác về sự yên ổn an toàn. Một lần người bạn tôi là nhà tâm lý học về trẻ em đến thăm đã nhận xét rằng tiếng khóc của bé không phải là dữ dội hay đòi hỏi, mà đúng ra là trông đợi, như thể bé biết được rằng mọi người sẽ nghe thấy bé. Và đó chính là tất cả những gì mà các bé cần - được biết rằng bạn sẽ lắng nghe bé. Vậy nên nếu bé nhà bạn có làm nhặng xị lên một lần hay hai mươi lần một ngày, bạn hãy bế bé lên, hát cho bé nghe, ôm bé vào lòng - làm bất cứ gì bé muốn. Có mặt bên cạnh con sẽ chỉ làm cho con bạn mạnh mẽ hơn.


2. HIỂU RẰNG CÓ NHỮNG LÚC CÁC BÉ CHỈ KHÓC VẬY THÔI


Bạn đã kiểm tra tã, cho ăn, đo nhiệt độ, vẫn không thấy có điều gì bất ổn. Vậy hãy trấn tĩnh lại: bạn không gây ra việc bé khóc, và bạn không nhất thiết phải làm bé ngưng khóc. Bé khóc là do nhu cầu từ bên trong và tính khí riêng của chính bé. Một số khóc dai và gay gắt hơn những trẻ khác, ngay cả khi được ôm ấp yêu thương trên tay. Nhiều bé khóc không phải vì cha mẹ của bé kém cỏi, mà bởi vì các bé vốn là như vậy. Trách nhiệm của bạn là giúp đỡ con bạn đến khi bé cảm thấy khá hơn. Những điều còn lại - bao gồm cả việc khi nào thì ngưng khóc - tất cả phụ thuộc vào bé.


Một lưu ý là nếu bạn đã làm mọi điều tốt nhất để dỗ dành bé, nhưng cảm thấy như chỉ cần thêm một tiếng khóc gào nữa thì đầu bạn nổ tung, hãy nhờ ngay một người khác bế bé (có thể là vợ hay chồng bạn, mẹ bạn, hay một người bạn biết thông cảm) và hãy nghỉ ngơi một chút. Khi bạn hết căng thẳng, bé cũng sẽ cảm thấy thoải mái hơn.


3. NHÌN NHẬN DƯỚI CON MẮT CỦA BÉ


Một trong những điều quan trọng nhất mà con gái đã dạy cho chúng tôi là biết hình dung sự việc dưới cách nhìn của bé. Một đêm, khi Hayden mới chỉ vài tuần tuổi, Martha đã mệt lử với việc dậy và đến bên nôi để dỗ bé, cô ấy đã bế luôn bé lên mang vào giường. Tôi vẫn còn nhớ Martha nói “Em cóc quan tâm sách vở nói gì, em cũng phải được ngủ một chút chứ”. Hai mẹ con sung sướng ngủ bên nhau cho đến tận khi Hayden cai sữa. Khi tôi ngắm nhìn hai người đẹp ngủ, tôi nhìn nhận sự việc bằng con mắt của Hayden. Liệu là bé thì tôi có chịu nằm ngủ một mình, hay là thích rúc vào lòng mẹ hơn - người mà bé yêu quý nhất giữa cái thế giới rộng lớn này? Phải công nhận rằng ngủ chung không phải là sự lựa chọn của mọi nhà, nhưng đối với chúng tôi điều này làm thay đổi hoàn toàn.


Nhìn nhận mọi thứ từ đôi mắt của con trẻ còn vô cùng hữu ích cho chúng tôi đối với các bé em của Hayden. Chẳng hạn như bé Matt khi còn nhỏ thường rất chăm chú khi chơi, nếu bị làm gián đoạn, bé thường sẽ nổi cáu. Đặt mình vào vị trí của bé, chúng tôi thấy cần phải có thời gian để từ từ chuyển hướng sự chú ý của bé. Thay vì nói rằng “đến lúc dọn dẹp đồ chơi rồi”, chúng tôi bảo “Năm phút nữa chúng mình phải bye-bye với đồ chơi và các bạn nhé”. Bé sẽ cảm thấy dễ chấp nhận hơn, và chúng tôi cũng thấy ổn.


Một tối, bé Lauren bé nhất, lúc đó lên hai, mở tủ lạnh cầm lấy hộp sữa và tất nhiên là làm đổ đầy ra sàn. Chúng tôi thì đã trễ buổi hẹn, và thế là tôi bắt đầu cáu. Martha thì bình tĩnh đặt tay lên vai bé và nói chuyện với bé. Lauren dần dần đỡ căng thẳng rồi ngưng khóc. Khi tôi hỏi Martha làm thế nào mà giữ được bình tĩnh đến vậy, cô ấy bảo “Em tự hỏi nếu em là đứa nhỏ liệu em sẽ mong mẹ phản ứng như thế nào trong trường hợp tương tự”. Lauren đã đủ bị phạt - bé biết là bé đã mắc lỗi. Nhưng Martha đã điều chỉnh được và cho bé sự giúp đỡ mà bé cần.


4. TÁN DƯƠNG TÍNH TÍCH CỰC


Mục tiêu cuối cùng của việc nuôi dạy con cái là giúp con phát triển tốt về thể chất, trí tuệ và tình cảm. Để làm được vậy, cha mẹ cần hiểu khái niệm về mức độ nhu cầu. Mỗi đứa trẻ sinh ra vốn có một mức độ nhất định về nhu cầu, và nếu nhu cầu của bé được đáp ứng, bé sẽ phát triển tối đa khả năng tiềm tàng của mình. Hayden là một ví dụ, bé cần được ôm ấp rất nhiều thì mới phát triển tốt. Đáng tiếc là bé nào cần được ôm ấp nhiều lại thường được gọi là hay đòi hỏi, nhõng nhẽo, khó tính. Những bé không như thế thì may mắn được dán những cái mác tích cực như dễ tính, vui vẻ, dễ chịu.


Chúng tôi không biết gọi Hayden là gì, thực sự bé không phải là nhõng nhẽo hay làm nhặng xị, nếu bé được bế và được quan tâm. “Trẻ hay đòi hỏi” chỉ là một cách nói khác của “trẻ hư”, mà bé thì không phải vậy. “Chứng đau bụng” cũng không đúng, rõ ràng là bé không đau đớn gì. “Khó tính” cũng không phải - ở bên cạnh đứa bé mà chúng tôi ngày càng cảm thấy gắn bó đâu có phải là việc gì nặng nề khó khăn. Hơn nữa, những cái “mác” ấy nghe rất tiêu cực đối với một con người bé nhỏ có vẻ như rất biết rõ một cách tích cực điều mà bé cần và làm thế nào để có được điều đó. Sau khi nói chuyện với các bậc cha mẹ có con có tính cách giống như Hayden, chúng tôi nhận ra rằng chúng tôi có một bé “yêu cầu cao”.


Trong nghề làm bác sĩ nhi, tôi phát hiện ra rằng thuật ngữ “yêu cầu cao” quả là phù hợp về mặt tâm lý. Vào lúc các bậc cha mẹ đã quá mệt mỏi đến gặp tôi để tham vấn về đứa con “hay đòi hỏi”, họ đã là nạn nhân của hàng loạt những nhận xét tiêu cực: “bạn bế bé nhiều quá đấy”, “chắc lại do sữa bạn không tốt”, “bạn để con bạn sai khiến”. Những lời khuyên như vậy đều bóng gió một thông điệp “con hư là tại cha mẹ không biết nuôi dạy”. Họ cảm thấy dù gì cũng là lỗi tại họ nên con họ mới xử sự vậy. Ngay khi tôi nêu ra khái niệm “trẻ yêu cầu cao”, tôi có thể thấy gương mặt họ giãn bớt sự căng thẳng. Cuối cùng thì cũng có người nói tốt về con của họ. “Yêu cầu cao” nghe có vẻ đặc biệt, thông minh và khác lạ, điều này chuyển sự chú ý đến tính cách của trẻ, và làm giảm đi nỗi lo của cha mẹ rằng họ đã làm điều gì sai. Hơn nữa, “yêu cầu cao” gợi ý rằng cha mẹ có thể làm được gì đó để giúp đỡ con họ. Điều đó ghi nhận rằng các bé này đơn giản chỉ yêu cầu nhiều hơn: cần vuốt ve nhiều hơn, cần được thấu hiểu hơn, cần sự nuôi dạy sáng tạo và tinh tế hơn. Những trẻ này rất nhạy bén – chúng cảm nhận rất sâu sắc – các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các trẻ này thường lớn lên có đầu óc sáng tạo. (Hayden vừa tốt nghiệp đại học ngành – các bạn đoán được không - kịch nghệ).


Điểm mấu chốt là mọi trẻ em (và ngay cả người lớn) đều có những thái độ và nét tính cách khó xử trí lúc này hay lúc khác. Tuy nhiên, nếu bạn định nghĩa phù hợp về tính cách của con bạn một cách tích cực, sẽ dễ dàng tập trung vào những phẩm chất lý thú của bé hơn là để ý đến những điểm phiền hà kia.


5. ĐỊNH HƯỚNG CHỨ KHÔNG KIỀM CHẾ


Một trong những giáo huấn sớm nhất mà chúng tôi học được, Martha với tư cách là một y tá và tôi với tư cách là một bác sĩ, là “đầu tiên, không được làm tổn hại”. Nó giúp chúng tôi nhận ra rằng nếu chúng tôi cứ cố làm yên cái tính cách đó của Hayden, chúng tôi đã làm tổn thương và có lẽ sẽ làm sự phát triển của bé bị khập khiễng. Công việc của chúng tôi không phải là làm thay đổi Hayden thành một bản sao về hành vi cư xử của bất kỳ trẻ nào khác. Thay vì thế, chúng tôi mở rộng mong đợi của mình và chấp nhận Hayden theo cách của bé chứ không phải là theo cách mà chúng tôi muốn bé như vậy. Chúng tôi xem mình như thể người trồng vườn: chúng tôi không thay đổi màu sắc của hoa hay thời gian nở hoa trong năm, mà chúng tôi nhổ cổ dại và xén tỉa cây để làm sao cho hoa nở đẹp rực rỡ hơn. Vai trò của chúng tôi là định hướng hành vi của Hayden và nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp để các nét tính cách bẩm sinh sau này sẽ trở thành thế mạnh - chứ không phải “gánh nợ”.


6. TÌM SỰ GIÚP ĐỠ


Nuôi con là một công việc vất vả, và đôi khi chúng ta cũng cần “ngoi lên” để thở một chút. Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy rằng cũng cần phải kén chọn người để nhờ vả. Khi bàn luận tình huống khó xử trong nuôi dạy con của chúng tôi với bạn bè, chúng tôi thường rời khỏi với suy nghĩ như thể Hayden là đứa trẻ duy nhất không thể tự thoả mãn nếu không có sự giúp đỡ của bố mẹ. chúng tôi đi đến kết luận rằng không ai có thể hiểu Hayden trừ phi họ cũng có con có tính cách giống như Hayden. Chúng tôi không vì thế mà từ bỏ bạn bè cũ, tuy nhiên chúng tôi ngưng không than phiền nữa với những người không có con “đầy thử thách” tương tự như vậy.


7. HÃY NÓI KHÔNG


Khi sốt sắng cho con mọi thứ chúng cần, nhiều lúc rất dễ sa vào việc cho chúng mọi thứ chúng muốn. Cha mẹ những đứa trẻ “yêu cầu cao” rất khó nói không bởi vì họ quen với việc ban cho như thế rồi. Tuy nhiên điều cốt yếu các bậc cha mẹ cần học được là khi nào thì cho và khi nào thì phải kiềm chế, đặc biệt là khi con lớn dần không còn ở giai đoạn em bé (dưới 1 tuổi) nữa. Ví dụ khi Hayden ở tầm một - hai tuổi, việc chờ đợi đối với bé là cả vấn đề, mà điều này không thực sự khác biệt lắm với những trẻ khác. Khi bé muốn gì hay muốn ai đó, bé muốn ngay lập tức. Thay vì nhượng bộ sự thiếu kiên nhẫn của bé, chúng tôi phải giữ vững quan điểm. Khi bé muốn chơi mà Martha lại đang nói chuyện điện thoại, tôi nói với bé là mẹ đang bận và con phải đợi đến khi mẹ xong việc. Khi bé lớn hơn một chút và thích đòi những thứ là mốt mới nhất của bọn trẻ hàng xóm, chúng tôi cũng thường nói không. Bởi vì chúng tôi đã cho bé quá nhiều từ bản thân chúng tôi rồi, thế nên dễ dàng hơn khi nói không với những thứ khác. Bé học được rất sớm rằng nhiều khi phải đặt yêu cầu của người khác lên trước yêu cầu của bé, và bài học cốt yếu hơn, rằng không phải bé muốn gì là được nấy.


Chính vì là một đứa trẻ “vững vàng” và được an toàn, Hayden có thể tiếp nhận được việc bị phá ngang hoặc việc không được thoả mãn ngay lập tức mọi yêu cầu của bé. Đây là điều quan trọng: tính cách dai dẳng cố chấp của đứa trẻ “yêu cầu cao” làm cho bé dễ thất vọng, bởi thế bé phải nhanh chóng học được cách đương đầu chấp nhận thất bại. Công việc của chúng tôi không phải là ngăn ngừa để bé không bị thất vọng trong cuộc sống, mà là giúp con học được cách vượt qua nó.


8. CHĂM SÓC BẢN THÂN BẠN


Khi Hayden khoảng 6 tháng tuổi, chúng tôi nhận ra việc nuôi dạy một đứa trẻ “yêu cầu cao” có thể có tác động tổn hại đến cuộc sống vợ chồng của chúng tôi - một đứa trẻ như vậy có thể dễ dàng chi phối cả gia đình. Một dấu hiệu nguy hiểm lơ lửng của sự mệt mỏi là khi Martha than “Em thậm chí không có thời gian để tắm, bé lúc nào cũng cần em”. Vì Martha, và sau chót là vì không khí lành mạnh trong gia đình, tôi phải nhắc nhở “điều mà Hayden cần nhất là một người mẹ vui vẻ và được nghỉ ngơi đủ”. Nhưng chỉ thuyết giáo thì chưa đủ. Ngoài việc phải để tâm nhiều hơn đến công việc trong nhà và với bọn trẻ lớn, tôi còn trông nom Hayden bất cứ khi nào có thể. Tôi đưa bé đi dạo để mang bé ra khỏi tầm nghe thấy và nhìn thấy của Martha. Hơn nữa, khi có đứa trẻ “yêu cầu cao” càng gia tăng sức ép buộc cha mẹ phải tự sắp xếp thời gian cho bản thân. Chúng tôi biết rằng nếu quan hệ của chúng tôi không đủ vững mạnh, gia đình sẽ tan vỡ. Đối với chúng tôi, điều đó có nghĩa là liệu chúng tôi có tiếp tục được nữa hay không với một đứa bé “yêu cầu cao” ngày cũng như đêm ròng rã.


Phải, khi Hayden là đứa trẻ, có thời điểm tôi tự hỏi liệu tất cả những cố gắng của chúng tôi có được đền đáp. Nhưng giờ đây nhìn lại, khi mà Hayden chuẩn bị lập gia đình, tôi nhận ra rằng chúng tôi đã được nhận lại xứng đáng cho những đầu tư từ trước đến giờ. Chăm sóc Hayden đã đòi hỏi chúng tôi rất nhiều với tư cách làm cha mẹ và đã mở mắt cho chúng tôi thấy được ý thức cá nhân của tám đứa con. Mỗi đứa dạy chúng tôi một bài học khác nhau, từ sự kiên nhẫn hết sức dành cho Hayden đến sự thấu cảm sâu sắc đối với Stephen bị mắc hội chứng Down. Nhưng có lẽ phần thưởng đẹp nhất từ những quy tắc vàng này là cuối cùng, bạn đã nuôi dạy cho con tính cách tự tin, độc lập và rộng lượng. Còn cha mẹ nào mong gì hơn thế?



Nguồn:http://www.parenting.com/parenting/site_search/1,8281,,00.html?query=golden+rules+of+parenting&pub_name_q=&last_result=-1&this_page=1