Thủ tục thách cưới trong đám cưới ngày xưa: Nhà trai phải làm gì mới được xin dâu ?
Lễ cưới là gốc của vạn phúc, vì vậy gia đình nào cũng mong tổ chức một đám cưới chỉnh chu nhất. Trong lễ cưới có khá nhiều trình tự khác nhau tùy theo phong tục của từng vùng miền, nhưng trước giờ rất ít khi thiếu đi màn “thách cưới”.
Tục cưới hỏi truyền thống bao gồm những bước nào?
Đám cưới là sự kiện trọng đại không chỉ đối với riêng đôi uyên ương mà đó còn là một sự kiện lớn của gia tộc, vì vậy xã hội nào, gia đình nào cũng mong tổ chức lễ kết hôn thật chu đáo. Theo phong tục đám cưới ngày xưa ở nước ta từ xưa, tục cưới hỏi phải trải qua 6 lễ:
- Lễ nạp thái.
- Lễ vấn danh.
- Lễ nạp cát.
- Lễ nạp chính, còn gọi là lễ nạp tệ.
- Lễ thỉnh kì, tức là lễ xin cưới.
- Lễ thân nghinh (còn có nơi gọi là thành nghênh).
Cụ thể, lễ nạp thái dân gian gọi là lễ chạm ngõ, một lễ đơn giản để bà mối dẫn đầu đoàn của nhà trai sang thăm nhà gái. Số lượng các thành viên trong đoàn khá đơn giản nhưng phải là người có óc quan sát, có tài trò chuyện đối đáp và bắt buộc phải có chú rể đi cùng. Lễ này là để hai bên gia đình trao đổi thăm dò, thực chất là một dạng lễ xem mặt và xem tướng của cô gái, đồng thời cũng là cơ hội để nhà trai xem gia cảnh và gia phong của nhà gái. Lễ nạp thái là chặng đầu tiên của cuộc hôn nhân nhưng chưa có tác dụng ràng buộc hai bên. Một trong hai phía không bằng lòng thì hoàn toàn có thể nói với bà mối để không tiến hành tiếp các lễ phía sau.
Lễ vấn danh là để hai bên trao đổi danh thiếp, nhà trai thông qua người mối, cử một đoàn vài ba người với lễ vật gồm chè, rượu, trầu, cau đến nhà gái để biết thông tin gồm ngày, tháng, năm sinh của cô gái về xem tuổi (còn gọi là so tuổi), xem cặp đôi này có hợp mạng không. Lễ này cũng giống lễ nạp thái, chưa phải là bước quyết định của hôn nhân. Trên thực tế ngày nay, nhiều cặp vợ chồng ăn ở với nhau rất hạnh phúc mà không cần so tuổi, chọn ngày để tiến hành hôn lễ. Xưa lễ này cũng thể hiện thói quen vào thuật số và được duy trì đến giờ, mỗi nơi có thể sẽ có biến thể hoặc sự nệ cổ khác nhau.
Lễ nạp cát trong phong tục đám cưới ngày xưa gọi là lễ ăn hỏi. Sau lễ vấn danh, bên nhà trai thấy đôi trẻ hợp tuổi liền đánh tiếng để xin làm lễ ăn hỏi. Nhà trai sẽ chọn ngày lành tháng tốt và hỏi ý kiến nhà gái các chi tiết cụ thể về số lễ vật. Ngày xưa lễ này ở nông thôn thường có một vài buồng cau to độ ba, bốn trăm quả (đủ số cau biếu, mỗi phần ba quả, ít đi là một quả, không bao giờ hai quả - vì cho đó là thô tục); dăm chai rượu trắng, một mâm xôi gấc, một cái thủ lợn. Ở thành phố thì xôi gấc, lợn quay, trà, rượu màu và bánh trái, trầu, cau… Sau này người ta bỏ bớt xôi gấc, lợn quay mà thay vào đó là các loại bánh dân tộc như: Bánh chưng, bánh dày, bánh cốm, bánh phu thê, lại thêm mứt sen, chè cân loại hảo hạng, cau tươi và trầu không sao cho tương xứng với số bánh trái trên, cùng với dăm ba chai rượu màu.
Sau lễ nạp cát là tới lễ nạp chính (cũng gọi là lễ nạp tệ), lễ này để hai nhà gặp nhau chủ yếu để xem bên nhà gái đòi hỏi nhà trai phải nạp những gì. Xưa cuộc bàn bạc này gọi là “thách cưới”, trong đó nhà gái có thể đưa ra yêu cầu, đỏi hỏi rất nhiều thứ nhưng có phân rõ lễ với nhà giàu, nhà nghèo. Khi hai bên thống nhất được về lễ vật và đồ thách cưới, hai nhà tiến hành lễ thỉnh kì – hẹn ngày xin cưới. Lúc này, đồ dẫn cưới nhà trai đã đưa sang nhà gái, việc cần làm tiếp theo là xin hẹn ngày, giờ đón dâu với nhà gái. Lễ này diễn ra hết sức đơn giản và không có gì cản trở.
Lễ thứ 6 trong phong tục đám cưới ngày xưa là lễ thân nghinh – lễ đón dâu. Người con gái về nhà chồng là ngày cưới, ngày vui, ngày hạnh phúc nhất của đời người nên nghi lễ đón dâu rất trang trọng. Xưa lễ này cần kiêng kị một số điều như: Không cưới trong kì đại tang, tránh tổ chức vào giờ xấu và tránh tháng 7 âm lịch.
Tục thách cưới hay dở ra sao?
Khác với những thủ tục trong đám cưới ngày xưa, thời nay tôn trọng sự tự chủ trong hôn nhân, luật hôn nhân ngày nay đã giải phóng cho nam nữ thanh niên tuy nhiên luật tục vẫn gò bó, trói buộc. Thách cưới cũng chính là một lệ tục lạc hậu, trói buộc cả nhà trai lẫn nhà gái. Trong tục lệ cưới hỏi bất luận thời xưa hay ngày nay, đã là “thách” thì đa phần là dở nhưng là dở nhiều hay dở ít mà thôi.
Như đã nói ở trên, trong lễ nạp tệ, nhà gái có quyền đòi hỏi yêu cầu nhiều thứ, từ các đồ quí về trang sức như vòng, xuyến, hoa tai, xà tích, quần áo, bạc trắng, tiền giấy, gạo, lợn, rượu… Tục lệ cho thấy, đã gọi là “thách” thì nhà gái thường nói đội lên những yêu cầu rất cao về các đồ sính lễ. Nhà trai tùy khả năng có thể mà đáp ứng, có khi bên nhà gái đòi mười, bên nhà trai chỉ có hai, ba nên thậm chí sẽ xảy ra cảnh cò kè bớt một thêm hai, khiến cho quan hệ giữa hai gia đình nảy sinh nhiều mâu thuẫn.
Nếu hai bên nhà trai nhà gái đi lại nhiều năm, đã hiểu và thông cảm cho nhau, muốn vun đắp cho hạnh phúc đối phương nhưng cũng không muốn mang tiếng là “cho không” nên sẽ tìm phương án phù hợp nhất để toại lòng tất cả. Trường hợp xấu nhất, nhà trai không thể đáp ứng được đầy đủ, việc cưới xin đành phải tạm hoãn, nếu thực tình không cố được họ sẽ buộc phải chối từ hôn sự dù khá vất vả mới đi được tới bước này. Những cảnh huống như vậy, về tình cảm cả hai bên đều sẽ tổn thương ít nhiều. Nhưng thật ra nỗi thiệt thòi lớn nhất chính lại rơi vào thân phận người con gái, bởi xã hội khi ấy coi rằng, người này đã mang tiếng một đời chồng.
Thách cưới “hay ít” là để dành cho những gia đình có học thức, không thách tiền, thách của mà thách chữ nghĩa văn chương với ý đồ chọn rể con nhà gia thế với hi vọng tương lai con mình sẽ sáng lạn, hạnh phúc.