Các bài thuốc chữa đi ngoài ở trẻ nhỏ: Đặc trị kiết lỵ, tiêu chảy, loạn khuẩn, đi ngoài nhiều ngày không khỏi....
Các bài thuốc chữa đi ngoài ở trẻ nhỏ: Đặc trị kiết lỵ, tiêu chảy, loạn khuẩn, đi ngoài nhiều ngày không khỏi....
Chữa tiêu chảy bằng cây phèn đen
Cây phèn đen là loại mọc hoang ở ven rừng hay bờ bụi khắp mọi miền hay được trồng làm hàng rào, thuốc nhuộm hoặc làm thuốc trị bệnh nhờ giàu dược tính. Phèn đen thuộc loại cây ở vùng nhiệt đới châu Á.
Cây phèn đen có tên khoa học Phyllanthus reticulatus Poir, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc thành bụi ở độ cao 500m so với mặt biển, cây nhỡ cao chừng 2 – 4m, cành nhánh màu đen nhạt, lá đơn nguyên mọc so le, có hình dạng thay đổi như hình trái xoan hay hình bầu dục hoặc hình trứng ngược; phiến lá rất mỏng dài 1,5 – 3cm, rộng 6 – 12mm, mặt trên lá sẫm màu hơn mặt dưới, lá kèm hình tam giác hẹp. Hoa mọc ở nách lá, riêng lẻ hay xếp làm 2 – 3 cái một. Quả hình cầu, chín có màu đen. Ra hoa và kết quả vào tháng 8 – 10 hằng năm.
Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ và lá với tên dược liệu Radix et Folium Phyllanthi Reticulati. Vỏ thân cũng được dùng làm thuốc. Thuốc được thu hái vào mùa thu, đem rửa sạch, thái nhỏ phơi khô cất sử dụng dần; lá được thu hái vào mùa hè, phơi trong bóng râm (âm can), vỏ thu hoạch quanh năm.
Đông y cho rằng rễ phèn đen có vị chát tính lạnh, có công năng tiêu viêm, thu liễm, chỉ tà. Chủ trị lỵ, lao ruột, viêm ruột, viêm gan, viêm thận, trẻ em cam tích. Ngoài ra còn dùng trị bị thuốc độc và rắn cắn.
Lá có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn, lợi niệu, được dùng để trị sốt, tiêu chảy, phù thũng, ứ huyết do đòn, té ngã, huyết nhiệt sinh đinh nhọt, dùng riêng hay phối hợp với lá long não, xuyên tiêu giã ngậm trị chảy máu chân răng; người ta còn dùng bột lá phèn đen để rắc vào vết thương cho chóng lên da non, ngoài ra còn lấy lá trị rắn cắn như nhai nuốt nước còn bã đắp lên vết thương.
Vỏ thân cây phèn đen có vị nhạt chát thường được sử dụng trị lên đậu có mủ hay tiểu tiện khó khăn.
Để tham khảo dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc tiêu biểu trị bệnh có sử dụng phèn đen.
Trị kiết lỵ: Dùng lá phèn đen tươi giã nát, thêm nước rồi lọc lấy nước phèn đen. Sau đó lấy mạch nha, cam thảo đất, ý dĩ khô tán bột lượng mỗi vị như nhau và mỗi lần lấy nửa thìa cà phê bột thuốc uống với nước phèn đen đã lọc sẵn.
Hoặc dùng rễ cây phèn đen 20g, dây mơ lông 20g, cỏ seo gà 20g, cỏ tranh 20g, gừng tươi 2 lát, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần (theo Tuệ Tĩnh trong Nam dược thần hiệu).
Tiêu chảy, lỵ do nhiệt: Dùng phèn đen cả cành và lá 40g, đậu đen sao 40g, ngày 1 thang cho nước sắc kỹ lấy nước thuốc chia 3 lần uống.
Theo suckhoedoisong.vn
...............................
Chữa bằng mộc nhĩ đen
Canh Mộc nhĩ đen
Nguyên liệu: Mộc nhĩ đen 50 gam.
Phối chế: Rửa sạch Mộc nhĩ, lượng nước 1000 mi-li-lít, ninh Mộc nhĩ đến nhừ là được.
Công hiệu: Ích khí mát máu, trị kiết lỵ.
Cách dùng và liều lượng: Mộc nhĩ trộn với một ít muối tinh và dấm là có thể dùng và ăn luôn canh Mộc nhĩ. Mỗi ngày 2 lần.
Chữa bằng Chè xanh-mật Ong
Nguyên liệu: Chè xanh 5 gam, mật Ong lượng vừa phải.
Phối chế: Cho chè xanh vào cốc sứ, pha bằng nước đun sôi, đậy kín nắp thêm 5 phút, pha với mật Ong là có thể uống.
Công hiệu: Thanh nhiệt sản sinh nước bọt, trị kiết lỵ trợ tiêu.
Cách dùng và liều lượng: Mỗi ngày 3-4 lần, uống một mạch khi nước chè còn nóng.
Chữa bằng Trứng Vịt muối tro
Nguyên liệu: Trứng Vịt muối tro 3 quả, đường đỏ 60 gam.
Phối chế: Bóc vỏ trứng Vịt muối tro.
Công hiệu: Dưỡng âm thanh nhiệt trị kiệt lỵ.
Cách dùng và liều lượng: Mỗi ngày 1-2 lần, mỗi lần 3 quả, trứng Vịt muối tro chấm đường đỏ, ăn trong lúc đói bụng. Có thể dùng thường xuyên.
Theo vietnamese.cri.cn
........................................
Chữa tiêu chảy bằng ổi
Cây ổi còn được gọi là phan thạch lựu, tên khoa học Psidium guyjava L., thuộc họ Sim Myrtaceae. Ổi là mộ loại cây nhỡ, cao từ 3 đến 6 mét. Cành nhỏ có cạnh vuông. Lá mọc đối, hình bầu dục, có cuống ngắn, phiến lá có lông mịn ở mặt dưới. Hoa có màu trắng, mọc ra từ kẻ lá. Quả mọng, có phần vỏ quả dày ở phần ngoài. Ổi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, lan sang châu Á, châu Phi. Hiện nay, ở nước ta có nhiều loại ổi. Ổi mọc hoang ở khắp nơi từ vùng đồng bằng đến đồi núi. Ổi cũng thường được trồng để ăn quả.
Dược tính.
Nghiên cứu về thành phần dinh dưỡng của ổi cho biết quả ổi có hàm lượng các sinh tố A, C, acid béo omega 3, omega 6 và nhiều chất xơ. Ổi là một trong những loại rau quả có tỷ lệ sinh tố C rất cao, mỗi 100g có thể có đến 486mg Sinh tố C. Sinh tố C tập trung cao nhất ở phần vỏ ngoài, càng gần lớp vỏ ngoài, lượng sinh tố càng cao. Do đó, khi ăn ổi, nên rửa sạch và ăn cả vỏ. Quả ổi là một nguồn thực phẩm ít calori nhưng giàu chất dinh dưỡng và có nhiều chất chống oxy hoá thuộc 2 nhóm carotenoids và polyphenols. Theo những nghiên cứu khoa học về những chất chống oxy hoá, vị chua và chát trong nhiều loại rau quả, bao gồm lá ổi, quả ổi là do độ đậm đặc của những loại tanin có tính chống oxy hoá gây ra. Tương tự như quy luật màu càng sậm như vàng, tía, đỏ càng có nhiều chất chống oxy hoá, vị càng chát, càng đắng, càng chua độ tập trung của những chất nầy cũng càng nhiều. Ngoài sinh tố A, C, quả ổi còn có quercetin, một chất có tính chống oxy hoá cực mạnh có tác dụng kháng viêm, chống dị ứng trong nhiều chứng viêm nhiễm mãn tính như suyển, dị ứng, tim mạch, thấp khớp, lỡ loét, ung thư.
Một tính chất quan trọng của ổi thường được sử dụng làm thuốc là tác dụng thu liễm, se da, co mạch, làm giảm sự xuất tiết và giảm sự kích thích ở màng ruột. Tác dụng nầy được dùng rộng rải trong nhiều chứng tiêu chảy, thổ tả hoặc kiết lỵ. Trong nhiều trường hợp rối loạn thuộc loại này, điều cơ bản là chống mất nước, giữ ấm người, bảo vệ khí hóa của Tỳ Vị. Búp ổi, lá ổi là một vị thuốc đáp ứng rất tốt cho yêu cầu se da, giảm xuất tiết và cả giảm kích thích để làm dịu các triệu chứng cấp. Uống thêm nước cháo gạo lức rang có thêm vài lát gừng nướng và một chút muối vừa bảo đảm yêu cầu bổ sung nước, vừa giữ ấm trung tiêu và kích thích tiêu hoá là những biện pháp đơn giản, ở trong tầm tay, nhưng có thể giải quyết được hầu hết các trường hợp.
Kinh nghiệm dân gian nhiều nơi đã dùng lá ổi giã nát hoặc nước sắc lá ổi để làm thuốc sát trùng, chống nấm, chữa các trường hợp lở loét lâu lành, làm giảm sốt, chữa đau răng, chữa ho, viêm họng. Nghiên cứu của Trần thanh Lương và các cộng sự cho biết tác dụng chống nhiễm khuẩn và nhiễm nấm là do 2 hoạt chất Beta-caryophyllene và Alpha-caryophyllene. Ở Ấn Độ, người ta còn dùng nước sắc lá ổi để chữa viêm thận, động kinh. Có thể thấy hiệu quả chữa bệnh ở đây là do tác dụng tổng hợp của 3 yếu tố (1) thu liễm (2) sát trùng (3) kháng viêm.