g. Phạm trù thái (Dạng)  :  

Phạm trù thái (Dạng) là phạm trù ngữ pháp của động từ ,  biểu thị mối quan hệ giữa chủ thể và hành động thông qua các dạng thức khác nhau của động từ chính.

- Thông thường ,  các ngôn ngữ phân biệt hai dạng của động từ  :

+ Dạng chủ động  :  được sử dụng khi chủ ngữ ngữ pháp đồng thời cũng là chủ thể hay tác nhân của hành động ,  còn bổ ngữ là điểm hướng tới của hành động. Dạng chủ động thường không có dạng thức biểu thị riêng mà thường trùng với dạng thức của thời và ngôi.

Ví dụ  :  trong câu sau của tiếng Anh  :  The teacher called Nam thì the teacher ở đây vừa là chủ ngữ ngữ pháp vừa là tác nhân của hành động ,  nên động từ call có dạng chủ động là called.

+ Dạng bị động  :  được sử dụng khi chủ ngữ ngữ pháp và chủ thể của hành động không trùng nhau  :  chủ ngữ ngữ pháp là đối tượng chịu tác động của hành động do một chủ thể khác gây ra.

Ví dụ :  Trong ví dụ trên ,  nếu muốn thể hiện chủ ngữ ngữ pháp (Nam) là đối tượng chịu sự tác động của hành động do chủ thể (teacher) gây ra thì ta có thể biến đổi động từ call sang dạng bị động :  Nam was called by the teacher.

- Mỗi ngôn ngữ có một cách thức riêng để biểu thị sự chuyển đổi từ dạng chủ động sang dạng bị động. Trong tiếng Anh hay tiếng Pháp ,  người ta thường dùng trợ động từ tobe hay étrê Trong các ngôn ngữ không biến hình ,  thường được thể hiện bằng các công cụ (như hư từ).

Ví dụ :  trong tiếng Việt ,  dạng bị động thường được thể hiện bằng hai từ là bị / được. Kèm theo sự đánh giá tiêu cực hoặc tích cực đối với sự việc đang được đề cập tới ,  so sánh  :  

Cảnh sát bắt nó / Nó bị cảnh sát bắt.


Họ tặng hoa cho cô ấy / Cô ấy được họ tặng hoa.

h. Phạm trù thể  :  

- Thể là phạm trù ngữ pháp của động từ. Biểu thị sự đối lập về tính hoàn thành hay không hoàn thành (đã cho biết hay chưa cho biết kết quả) của hành động.

- Những ngôn ngữ có phạm trù thể thường phân biệt 2 thể  :

+ Thể không hoàn thành  :  biểu thị những hành động ,  hoạt động hay trạng thái đang diễn ra trong thời gian (có thể ở thời hiện tại ,  quá khứ hoặc tương lai).

Ví dụ (i) :  trong tiếng Nga ,  động từ pixat (viết)động từ không hoàn thành ,  do vậy nó luôn luôn biểu thị hành động hay hoạt động đang được khai triển ,  bất luận hành động hay hoạt động đó diễn ra trong quá khứ ,  hiện tại hay trong tương lai.

So sánh :  ja pisu (tôi đang viết) ,  ja pixal (tôi đã viết  ,  nhưng chưa xong) ,  ja budu pixat (tôi sẽ viết ,  nhưng không biết kết quả).

Ví dụ (ii) :  Trong tiếng Anh :  He is teaching => diễn tả hành động đang diễn ra ở hiện tại

+ Thể hoàn thành :  biểu thị những hành động hay hoạt động được hiểu là đã kết thúc hay đã cho ta biết kết quả (có thể trong quá khứ ,  ở hiện tại hoặc trong tương lai).

Ví dụ (i) :  động từ napixat (viết) của tiếng Nga là động từ thể hoàn thành ,  do đó nó luôn luôn biểu thị hành động đã được thực hiện xong ,  cho dù hành động này diễn ra trong quá khứ hay tương lai.

So sánh :  ja napixal (tôi đã viết xong) ,  ja napisu (tôi sẽ viết xong)

Ví dụ (ii) :  completed my studies => diễn tả hành động đã hoàn thành (hoàn thành việc học)

=> Có thể thấy phạm trù thể được biểu thị bằng phụ tố hoặc bằng phụ tố kết hợp với trợ động từ. Trong một số ngôn ngữ chúng còn có thể được biểu thị bằng hư từ. (Ví dụ :  trong tiếng Việt có các hư từ như sắp ,  sẽ ,  từng ,  mới ,  chưa ,  đang...)

i. Phạm trù thức :

- Thức là phạm trù ngữ pháp của động từ. Thể hiện mối quan hệ giữa người nói và nội dung câu nói.

- Thông thường ,  những ngôn ngữ có phạm trù thức thường phân biệt 3 thức :

+ Thức trần thuật :  Biểu thị mối quan hệ khách quan ,  trung hoà của người nói với nội dung câu nói.

Ví dụ :  I go to school...

+ Thức mệnh lệnh :  Biểu thị mối quan hệ chủ quan của người nói với nội dung câu nói :  nêu lên yêu cầu hay mệnh lệnh thực hiện hành động của người nói đối với người nghe.

Ví dụ :  Stop! / Wait! / Hurry!...

+ Thức điều kiện/ giả định :  biểu thị mối quan hệ chủ quan của người nói đối với nội dung câu nói ,  nhằm nêu lên sự đánh giá chủ quan của người nói đối với khả năng xảy ra hành động hay sự kiện được đề cập tới trong câu nói (không chắc chắn xảy ra hoặc có thể xảy ra với một điều kiện nào đó).

Ví dụ :  If the weather is nice ,  I will go swimming tomorrow / If I were you ,  I would follow her advice.

- Động từ tiếng Việt không có phạm trù thức. Tuy vậy ,  các ý nghĩa trần thuật ,  mệnh lệnh ,  giả định... vẫn được thể hiện nhờ một số hư từ hay nhờ ngữ điệu của câu.