b) Phương thức biến tố bên trong:

Đây là phương thức dùng sự thay đổi cấu tạo bên trong từ căn để thể hiện các loại ý nghĩa ngữ pháp khác nhau.

Trong tiếng Anh, phương thức này thường dùng để cấu tạo số nhiều của danh từ và dạng thức quá khứ hay quá khứ phân từ. 

Cấu tạo danh từ: foot -> feet; mouse -> mice; wolf -> wolves; wife -> wives; woman-> women.

Cấu tạo dạng quá khứ của động từ: fall -> fell; take -> took; meet -> met; deal -> dealt; hear -> heard.

c) Phương thức thay chính tố:

Theo phương thức này, người ta dùng hẳn một từ căn tố để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp.

Trong tiếng Anh phương thức này ít gặp, chủ yếu dùng để cấu tạo số nhiều của danh từ, dạng quá khứ của động từ và dạng so sánh của tính từ và cấu tạo từ loại.

- Số nhiều của danh từ: person -> people,

- Dạng quá khứ của động từ: go -> went

-Dạng so sánh của tính từ good -> better/best, bad -> worse/worst, little -> less/least

- Cấu tạo từ loại steal(v) -> thief (n)

Vốn là ngôn ngữ không biến hình, tiếng Việt không có phương thức này.

d) Phương thức trọng âm:

Phương thức này thay đổi từ loại của từ bằng cách chuyển vị trí của trọng âm. 

Trong tiếng Anh phương thức này chủ yếu xảy ra ở từ hai âm tiết và thường là thay đổi từ loại giữa danh từ/tính từ với động từ.

‘record (n) -> re’cord (v)

‘present (n, adj) -> pre’sent (v)

Sub’ject (n) -> ‘subject (v)

e) Phương thức trật tự từ:

Trong câu, hay trong tổ hợp từ khi các từ được sắp xếp theo những trật tự trước, sau khác nhau thì sẽ tạo ra những ý nghĩa khác nhau. Cả trong tiếng Anh cũng như tiếng Việt, trật tự từ là phương thức ngữ pháp quan trọng nhất. Người ta phân biệt trật tự của các từ trong tổ hợp từ (tổ hợp danh từ, tính từ và động từ) và trật tự của thành phần câu (chủ ngữ, động từ vị ngũ, tân ngữ và trạng ngữ).

Trong đó trật tự từ trong tổ hợp danh từ là phức tạp nhất.

- Trong tổ hợp danh từ tiếng Anh yếu tố bổ nghĩa thông thường đi trước yếu tố được bổ nghĩa. Trong tiếng Việt thì ngược lại.

Ví dụ: my house: nhà tôi, good books: sách hay, this man: người này…

- Trong câu Tiếng Anh và tiếng Việt trật tự các thành phần câu thường tương tự như nhau đó là trật tự: S + V + O + A (subject + Verb + Object + Adverbial – chủ ngữ, động từ, tân ngữ và trạng ngữ).

I greeted him very politely at school yesterday: Tôi đã chào ông ấy rất lịch sự ở trường ngày hôm qua.

Tuy nhiên trạng ngữ chỉ thời gian và địa điểm thường đứng đầu câu trong tiếng Việt

I greeted him very politely at school yesterday: Hôm qua ở trường, tôi đã chào ông ấy rất lịch sự.

- Một khác biệt quan trọng là trong câu hỏi do có trợ động từ nên tiếng Anh dùng trật tự đảo so với câu trần thuật. Trong tiếng Việt thông thường không có sự thay đổi trật từ nhiều để cấu tạo câu hỏi. Và hư từ được dùng thay vào đó.

Ví dụ:

Câu trần thuật:

Tiếng Anh: Linda has cooked dinner

Tiếng Việt: Linda đã nấu bữa tối.

Câu hỏi:

Has Linda cooked dinner?- Linda đã nấu bữa tối chưa?

How long did you cooked dinner?- Bạn đã nấu bữa tối trong bao lâu?

f) Phương thức hư từ:

- Các ý nghĩa ngữ pháp có thể biểu hiện không phải bên trong từ mà ở ngoài từ. Phương thức dùng từ hư là một phương thức như vậy.

Phương thức này phổ biến cả trong tiếng Anh lẫn tiếng Việt.

Các loại hư từ phổ biến trong tiếng Anh là determiners (từ kèm danh), prepositions (giới từ) và conjunctions (liên từ).

Determiners là những hư từ đi trước danh từ để xác định danh từ về vị trí, số lượng, sở hữu, thứ tự… Các loại từ kèm danh tiếng Anh gồm có:

- articles (mạo từ) ví dụ a book, the books,

- demonstratives (từ chỉ định), ví dụ this boat, that boat, these boats, those boats,

- possessives (tử chỉ sở hữu) ví dụ my name, your car,

- distributive (từ phân bố) ví dụ all things, every thing, each thing, either thing, neither thing, any thing

- quantifiers (từ chỉ số lượng không xác định) ví dụ many things, much money, a lot of money, some money, a little money, a few cars,

- cardinal numbers và ordinal numbers (số đếm và số thứ tự) ví dụ three men, the first man, the last cup

Prepositions (giới từ) là những hư từ đi trước danh từ hay đại để chỉ quan hệ của nó với các thành phần khác trong câu hay tổ hợp từ. Về ý nghĩa có thể phân giới từ thành nhóm chỉ địa điểm (in, at, on), thời gian (in, at, on), nguyên nhân (because of), lý do (for), cách thức, phương tiện (by, through), nhượng bộ (in spite of), so sánh (like, as), điều kiện (without, but for)…

g) Phương thức ngữ điệu:

Phương thức này thường dùng để thay đổi chức năng thông báo của câu, hay diễn tả thái độ, tình cảm của người nói.

Ví dụ: She loves tom!

Là câu trần thuật, được đọc bằng cách hạ giọng.

She loves Tom?

Được đọc bằng cách lên giọng.

h) Phương thức lặp:

Phương thức này bao gồm lặp toàn phần (nhanh nhanh, xa xa, câng câng) hay lặp bộ phận (tàm tạm, nho nhỏ, làm ăn làm iếc).

Phương thức này hiếm gặp trong tiếng Anh trừ một số dạng nhấn mạnh dung trong khẩu ngữ: She is very very very tall. No, no, no, I will never leave you.

Phương thức này lại khá phổ biến trong tiếng Việt. Nó dùng để cấu tạo mới với các sắc thái nghĩa mới, thường là làm giảm nghĩa (xanh xanh, đo đỏ, nho nhỏ, chầm chậm, đẹp đẹp, to to, hay hay, be bé, ti tí, tròn tròn, gầy gầy, beo béo, ), dạng thức số nhiều (nhà nhà, người người, ngành ngành, ngày ngày, đêm đêm, tầng tầng,lớp lớp) hay trong các thành ngữ đúc sẵn (sạch sành sanh, chàng ràng chấu rấu, hàng hàng lớp lớp, lấm la lấm lét, tí ta tí tách, thủ thủ thỉ thỉ, hay lam hay làm, cục ta cục tác, cầu bất cầu bơ, dở dở ương ương, tủn mủn tùn mùn, thậm thì thậm thụt.