Âm vang sáo trúc - Âm thanh của tình yêu cuộc sống. Trong bài thơ “Tiếng trúc tuyệt vời”, nhà thơ Thế Lữ viết:


“Tiếng địch thổi đâu đây,


Cớ sao mà réo rắt?


Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt”.


Từ lâu, cây sáo đã có mặt trong nền văn hóa việt nam tạo nên một nét văn hóa bình dị, đậm đà bản sắc dân tộc Việt. Có thể cây sáo không phải là sản phẩm sáng tạo của dân tộc ta nhưng hình ảnh cây sáo và tiếng sáo đa in đậm trong tâm hồn ta từ bao đời nay.


Nguồn gốc:


Sáo trúc là một loại nhạc cụ họ hơi (chi hơi vòm) bắt nguồn từ cây “sáo lau sậy” vào thời kì cổ đại. Có những loại sáo với nhiều ống ghép lại với nhau theo phương thẳng đứng dọc theo mỗi ống cấu tạo và khi hơi thổi ngang trên đầu ống chạm đến thành ống tạo ra âm thanh. Nhưng thỉnh thoảng có những ống được khoét bên thành ống cũng tạo ra âm thanh. Sáo trúc được làm từ các ống nứa hoặc ống trúc. Từ những thiên niên kỷ trước, cây sáo trúc giá rẻ qua nhiều vùng đất, nền văn hóa, lục địa khác nhau, cây sáo đã được chế biến qua nhiều hình mẫu khác nhau.


Trong những dấu tích cổ xưa còn ghi lưu lại, Kinh Thánh, trong Genesis trích dẫn thì người Jubal là cha đẻ của đàn Harp và sáo.Trong kinh thánh lưu giữ một cách xúc tích về vấn đềnày nhưng ngày nay trường phái ghi chép về kinh thánh vẫn còn do dự để nói những loại nhạc cụ như vậy.


Một mức độ nào đó làm sáng tỏ vấn đề hơn là đến từ một nơi cổ xưa gần vùng Địa Trung Hải, từ Sumeria và Ai Cập, nhưng hầu hết dữ kiện là tranh ảnh (hình ảnh trên các đền thờ). Những văn minh cổ xưa với những ống cây lau, cây sậy ,ống cây, vành cắt ở miệng thổi,ống dài không lỗ bấm cho đến sau đó là 3,4 lỗ bấm . Những ống chôn từ những ngôi cổ mộ được khai quật cho thấy nhiều loại sáo 3 lỗ bấm. Nhạc cụ nầy dường như bắt đầu từ những người chăn cừu và sau nầy phối hợp dùng trong các nghi lễ tôn giáo


Một số loại sáo sớm được thực hiện trên xương ống chân thú vật. Bộ môn sáo cũng luôn luôn là một phần thiết yếu của nền văn hóa Ấn Độ và trong những truyền thuyết thần thoại, và qua sáo Tin của một số tài liệu để có nguồn gốc và văn học ở Ấn Độ , cũng từ 1500 trước Công Nguyên đã có những tài liệu về sáo


Các loại sáo cổ nhất từng được phát hiện, mặc dù đây là tranh chấp, có thể là một mảnh của xương đùi của một con gấu hang động chưa thành niên, với 2-4 lỗ, tìm thấy tại Divje Babe tại Slovenia và ngày đến khoảng 43.000 năm trước. Việc phát hiện ra cây sáo cũng là lâu đời nhất đã xác nhận tìm thấy bất kỳ nhạc cụ trong lịch sử


Phụ nữ Trung Quốc biết chơi sáo, từ thế kỷ thứ 12 thời nhà Tống nổi bật là Đêm dạ tiệc của Hàn Xizai, ban đầu nguyên thủy do Cố Hoành Trung ( thế kỷ thứ10t ) .Cây sáo ngang sớm nhất hiện còn là Sáo Chi, phát hiện trong lăng mộ Hầu Tước Marquis Yi Tùy Châu, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Cây Sáo có từ 433 trước Công nguyên, sau đó đến thời nhà Chu. Đây là thời đại của sáo tre với lỗ thổi và có năm lỗ thay vì lổ thổi trên đầu ống. Sáo Chí được đề cập trong Shi Jing, biên dịch và biên của Khổng Tử theo truyền thống.


Cây sáo cũng luôn luôn là một phần thiết yếu của nền văn hóa và thần thoại Ấn Độ. Tại quốc gia này, tiếng sáo đi vào đời sống tâm linh, là giáo kết của nhiều thế giới với nhau. Người Ấn tin rằng, tiếng sáo có khả năng dẫn dắt linh hồn con người đi về cực lạc vĩnh hằng.



Ngày nay, con người trở nên khó khăn, giữ nguyên thủy hay cải tiến, cũng không thể chơi một vài loại sáo, việc mua bán sáo trúc cũng không còn được phổ biến . Loại sáo dài 6 foot lớn ở New Guinea đến loại sáo “Bushman” của Africa làm bằng loại lông chim đà điểu. Sáo Flageolet là một trong các thể loại sáo có khắp nơi. Ở Java có loại sáo gọi là Suling chơi với giàn nhạc gồm chủ yếu các nhạc khí trống mõ . Miền Bắc Ấn Độ có loại sáo gọi Apache..


Như vậy, sáo là nhạc cụ thổi hơi có từ thời kỳ cổ đại, rất nhiều nước trên thế giới sử dụng sáo với nhiều hình dáng và cấu tạo có thể khác nhau. Tiếng sáo đi vào đời sống văn hóa, tâm limh, nghệ thuật tạo nên những bản sắc riêng biệt không thể hòa lẫn ở mỗi quốc gia. Người ta hường nhớ đến tiếng sáo mê hoặc của các thầy luyện rắn ở Ấn DỌ, hay tiếng sáo réo rắt, thanh vang trên núi của người Trung Quốc đưa ta đến với chốn bồng lai tiên cảnh thanh thoát tuyệt vời.


Ở Việt Nam, cây sáo cũng đã tạo nên một bản sắc đậm đà, bình dị của nền văn hóa thuần nông. Tiếng sáo chiều véo von trên đồng quê yên ả, hay réo rắt trên đỉnh núi cao gọi mời luôn cho ta cảm giác yên bình, nhung nhớ da diết.


Phân loại:


Dựa theo cách thổi, sáo trúc chia ra 2 loại: sáo ngang hoặc sáo dọc. Mỗi loại đều rất phong phú về thể loại. Ở Việt Nam, Sáo ngang chiếm phần trăm phổ biến thông dụng cao. Mỗi loại Sáo có mỗi tone riêng nên người chơi thường chọn loại Sáo làm sao để phù hợp với tone của bản nhạc. Còn có các loại sáo có thêm một số lỗ bấm phụ trên thân sáo, giúp việc diễn tấu các nốt thăng/giáng dễ dàng.


Cấu tạo cây sáo:


Tại Việt Nam, phổ biến loại sáo 6 lỗ bấm, 1 lỗ thổi, 1 lỗ âm cơ bản và 2 lỗ treo dây/định âm, âm vực rộng 2 quãng 8, được làm bằng trúc hoặc nứa theo hệ thất cung. Một số sáo cải tiến có nhiều lỗ bấm hơn để thổi các nốt thăng/giáng. Ngoài ra còn có loại sáo dọc, với đầu thổi được thiết kế ở phần đầu thay vì ở phần thân của sáo, các lỗ và thế bấm cũng tương tự như sáo ngang. Loại sáo dọc này sử dụng đầu ngậm để thổi nên dễ điều khiển luồng hơi vào thân sáo để phát ra tiếng hơn sáo ngang. Tuy nhiên, loại sáo này ít được sử dụng phổ biến và đôi khi bị nhầm với tiêu vì cùng thổi dọc. Điểm khác biệt cơ bản giữa sáo dọc và tiêu là ở kích thước, chiều dài, lỗ thổi và vị trí các lỗ bấm.


Cây sáo ngang thường làm bằng ống trúc, ống nứa hoặc ống rùng, thỉnh thoảng người ta tạo ra loại sáo bằng kim loại hoặc bằng gỗ đều sử dụng tốt. Lỗ âm cơ bản là lỗ khoét cuối ống, quyết định âm trầm nhất khi ta bịt kín tất cả những lỗ bấm. Âm trầm này dùng để xác định tên gọi của loại sáo. Tuy nhiên, có những cây sáo không có lỗ âm cơ bản nếu chúng bị cắt cụt ngay chỗ đó. Để xác định tên gọi người ta căn cứ vào đầu lỗ của ống sáo và cho đó là lỗ âm cơ bản. Tuỳ vào từng loại sáo, lỗ âm này có thể có hoặc không.


Thông thường sáo ngang có âm vực rộng 2 quãng tám. Dù sáo âm thấp hay cao đều có âm sắc trong sáng, tươi tắn, gợi nhớ khung cảnh đồng quê. Tuy nhiên người ta có thể sử dụng chúng để diễn tả những giai điệu buồn man mác.


Về cách thổi nghệ sĩ thường sử dụng kỹ thuật rung, đánh lưỡi (đơn, kép và tam) hoặc phi (một cách rung lưỡi cổ truyền). Ngoài ra còn cách nhấn hơi, luyến hơi, vuốt hơi, âm bội và ngón vỗ…


Sáo ngang dùng trong dàn nhạc hiện nay có 3 loại: sáo ngang tông Do (loại tiêu chuẩn), sáo ngang tông Re giáng (âm thanh cao hơn nốt viết ½ cung) và sáo ngang tông Mi giáng (âm thanh cao hơn nốt viết 1 cung ½). Sáo ngang tông Do được dùng trong dàn nhạc giao hưởng, hai loại sau thường dùng trong dàn kèn quân nhạc.


Về mặt kỹ thuật, sáo dizi là một thứ nhạc khí rất linh hoạt, chạy được tốc độ nhanh, đáp ứng nhiều lối viết nhạc khác nhau. Dùng sáo ngang rất tốn hơi, nên câu nhạc thường không viết quá dài và phải chú ý dành chỗ lấy hơi.


Nguyên liệu làm sáo:



Sáo thường được làm từ trúc, nứa hoặc gỗ, ngoài ra còn có thể làm từ nhựa, kim loại (nhôm, inox), xương,… hoặc thâm chí bằng vàng. Mỗi loại vật liệu cho ra một âm sắc đặc trưng khác nhau. Chất lượng vật liệu ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng âm thanh mà cây sáo phát ra. Riêng với sáo trúc, nứa thì vật liệu dùng để làm sáo thường là cây trưởng thành hoặc tốt hơn là loại đã già, nhiều năm tuổi (nhưng không quá già), âm chắc, đanh, không sâu bệnh hay mối mọt.


Sáo làm từ nhựa hoặc kim loại thường chế biến công nghiệp nên độ chuẩn xác của nốt cao, ít bị sai lệch. Sáo trúc, nứa hoặc gỗ thường chế tạo thủ công nên độ chuẩn xác đòi hỏi rất nhiều ở vật liệu và tay nghề của người chế tạo. Tuy nhiên, các loại sáo này lại cho ra âm sắc hay hơn.


Người thổi sáo đã đi vào lòng tạo vật, diễn tả thiên nhiên cũng như nói lên lòng mình qua nhạc cụ thô sơ, lòng mình thì sâu kín rối rắm vò tơ nhưng cây sáo thì chỉ có sáu lỗ mà tài tình làm sao, nghe như khóc như than, khi thì phượng hoàng xòe cánh đùa rỡn trong đêm trăng, như mưa khuya thanhd thoát, như chim hót, như gió lùa như tiếng thủ thỉ ân tình, mật rót tai như nỗi lòng ai dàn trải trong không gian, gửi về muôn hướng. Thật vậy, không có âm thanh của nhạc cụ nào lại vang xa, càng xa càng trong vắt, càng mơ hồ. Người chơi đàn, rung nắn phím tơ bằng gân tay. Người thổi sáo ngoài mười ngón tay ra, còn dùng hơi thở của mình để tạo nên âm thanh. Tiếng sáo gần với tiếng người nó đích thực là tiếng lòng. Hơi thở thổi vào lòng trúc, đôi tay uốn nắn hơi thở ấy để phát ra âm thanh của sự sống.