Tiên Tiểu Hương mắc đoạ


Trong cuộc đời gần hai mươi năm đi bụi của mình, cô thề "0" với mấy điều: thứ nhất, không bán dâm; thứ hai, không chích xì ke; thứ ba, không móc túi và trộm cắp; thứ tư, không nói dối; thứ năm, không ăn xin. Ba điều sau cùng cô làm được, nhưng không bán dâm thì cũng bị người ta bắt đi bán từ động này sang động khác, bị cưỡng dâm còn tủi nhục hơn cả bán dâm. Không chích xì ke thì cũng bị bọn ma cô cưỡng chích cho ghiền, để chúng dễ dàng điều khiển theo luật giang hồ.


Tiểu Hương không ngần ngại cho tôi xem những vết thẹo trên người. Và, cô cũng không ngần ngại khi kể về lai lịch đau buồn của những vết thẹo ấy: “…Chúng đốt chỗ này để em không mặc được quần áo, vừa để cảnh báo những cô gái khác… Còn hai vết thẹo này do bọn du đãng dùng dao cắt, khi em kháng cự lại trò hiếp dâm tập thể của bọn chúng. Em đã sang Singapore làm thẩm mỹ mấy lần nên mới được như thế này, chớ hồi xưa thấy ghê lắm!".


Những tháng năm nhục nhằn



Hỏi những câu chuyện buồn đau ấy xảy ra với cô vào những tháng năm nào, Tiểu Hương không nhớ. Cô nói đối với dân giang hồ thì làm gì có thời gian. Ngay cả tên tuổi, cha mẹ, quê hương, những điều được ghi hàng đầu trong lý lịch của mỗi con người thì với cô lại hoàn toàn không có.


Cái tên Tiểu Hương chỉ là một cái tên cuối cùng sau hàng chục cái tên mà cô đã mang trên bước đường lưu lạc từ Trung ra Bắc, rồi từ Bắc vô Nam.


Trôi dạt, rồi Hương lớn lên dần ở Vĩnh Phú. Càng lớn Tiểu Hương càng xinh đẹp, nhưng vừa đến tuổi dậy thì, Tiểu Hương đã bị cha nuôi làm nhục. Bấn loạn, suy sụp, không chia sẻ được với ai, may có vài người hàng xóm tốt bụng biết được chuyện, họ gom một ít tiền giúp Hương bỏ trốn. Ngược xuôi theo những chuyến tàu Bắc Nam, Hương nhập băng với nhóm trẻ bụi đời.


Bán được ly trà đá, một thỏi kẹo hay xin được chén cơm thừa trên tàu, trên những nhà ga không đơn giản. Nạn tranh bán, tranh ăn, ma cũ hiếp ma mới, nạn hiếp dâm, đánh đập của bọn côn đồ... làm cho những vết thẹo thù hận như nhiều hơn trên người cô gái nhỏ.


Tiểu Hương bỏ tàu hoả, lần theo đường ô tô đi bộ từ Lạng Sơn xuôi về phương Nam. Đi đến đâu, gặp được những đứa trẻ cùng số phận, cô tìm cách kết bạn và rủ đi cùng... Chẳng biết tự lúc nào, Hương nhập băng với đoàn quân đi tìm trầm, đãi vàng tận Trường Sơn, vào Tây Nguyên, với ước mong đổi đời. Ngày thì quần quật ở bãi để đổi lấy chén cơm, đêm thì hầu hạ bọn ma cô thú tính. Bị cưỡng hiếp, bị đòn roi, bị sốt rét và bị đói đến kiệt sức, hoa mắt, ù tai. Nửa đêm, Tiểu Hương bò ra rừng tìm lá cỏ non nhai lấy sức rồi bỏ trốn.


Đến Vũng Tàu, Tiểu Hương lại bị bọn lưu manh bán vào động mại dâm. Lại trốn. Bắt được, chúng bắt cô trói lại, lột hết quần áo rồi dùng sắt nung đốt vào người. Dù chị em có khuyên, nhưng cô đã thề, “chết chớ không lấy thân xác làm phương tiện mưu sinh”.


Thoát khỏi Vũng Tàu, Tiểu Hương lên Sài Gòn.


Trong những ngày sống ở bến xe miền Đông, Hương được một ông chủ xe đò, nhà ở Bến Hàm Tử nhận Hương làm con nuôi, ông đặt tên cô là Huỳnh Thị Mận. Thế là Hương có chứng minh nhân dân, có hộ khẩu, từ đó, cô chính thức trở thành công dân của Sài Gòn. Nhưng bị những người anh em trong gia đình chì chiết, cô phải bỏ nhà ông bố nuôi ra đi.


Rồi Hương lại được một thương nhân Đài Loan đứng tuổi tên W. đã nhận làm con nuôi. Ông quý Hương là đứa trẻ cơ nhỡ, nhưng nhân ái, biết hy sinh cho những bạn đồng khổ của mình. Hết lần này rồi đến lần khác, ông vẫn cố gắng giúp đỡ Hương. Ngỡ đấy là tình cảm cha con – một tình cảm thiêng liêng, vậy mà trong một đêm, nó trở thành nhơ nhớp, Hương lại bị ông cưỡng hiếp.


Trong lúc Tiểu Hương chụp lấy con dao toan tự tử thì lão W. quỳ xuống, van cô tha thứ. Ông hứa từ nay sẽ không bao giờ dám nhìn mặt Hương. Và xin được gửi cô hai chục cây vàng để mua nhà ở, tìm cơ hội làm ăn để giúp đỡ bạn bè.


Nguyên tắc 30%



Ngay từ những năm đầu tiên của thập niên 90, khi sự nghiệp kinh doanh mới bắt đầu phát triển, dù không có tư cách pháp nhân, nhưng Tiểu Hương đã có một nguyên tắc trong nhóm bạn của mình theo luật giang hồ: trong mỗi thương vụ làm ăn, phải dành ra 30 phần trăm lợi nhuận để giúp trẻ bụi đời.


Từ những căn phòng nhỏ ban đầu làm nơi cho các em tắm rửa – “đối với dân bụi đời, nhất là con gái, chuyện bức xúc nhất mỗi ngày là tìm được nơi tắm rửa” - cô đổi sang những căn phòng trọ lớn hơn, mỗi phòng có thể ở được năm bảy đứa, cô cấp gạo, cấp tiền ăn và dạy các em tự quản, đứa lớn chăm sóc cho đứa nhỏ, đứa thì đi học văn hoá, đứa học nghề, đứa nào thích buôn bán thì cô cấp vốn cho buôn bán…


Công việc kinh doanh và từ thiện của Hương cứ đan xen vào nhau một cách âm thầm, lặng lẽ như thế cho đến mười năm sau - năm 2001 - người ta biết đến khi Trung tâm nhân đạo Quê Hương ra đời cùng với hai công ty sản xuất nước khoáng, một công ty sản xuất phụ tùng xe gắn máy mà trong đó, từ ban giám đốc cho đến công nhân, tất cả hơn 700 con người đều do Tiểu Hương cưu mang, đào tạo từ những mảnh đời cơ nhỡ.


Đó là Huỳnh Quốc Minh, một đứa trẻ mồ côi đã kết nghĩa chị em với Hương từ thời niên thiếu, đã bao lần tan hợp, rồi gặp lại giữa Sài Gòn, được Hương cho đi học chữ, học nghề và cấp vốn làm ăn. Bây giờ Minh trở thành người điều hành mọi việc tại trung tâm. Đồng thời, em cũng là chủ của 7 chiếc xe du lịch cho thuê và có cổ phần trong hai công ty lớn ở Biên Hoà.


Đó là Anh Đào được Hương nhặt trong thùng rác ở bến xe miền Đông ngay từ những ngày Hương còn bữa no bữa đói. Giờ, Anh Đào là cô giáo xinh đẹp dạy ngoại ngữ (Anh, Hoa) trong trung tâm.


Đó là một trưởng phòng kế toán trong một công ty Đài Loan, được Tiểu Hương nuôi nấng và cưu mang từ lúc lên mười, giờ đã tốt nghiệp đại học và có một công việc thu nhập cao. Những Văn Quý, Thu Cúc, Văn Minh, Văn Thu… Những đứa trẻ vô thừa nhận lớn lên từ gốc cây bụi cỏ, bây giờ đã trở thành những nhân viên tài chính, chuyên viên kỹ thuật với mức thu nhập năm ba triệu đồng mỗi tháng.


Nói về những người bạn của mình, Tiểu Hương cho biết, qua cuộc sàng lọc bể dâu giữa chốn bụi đời, cô còn lại 46 người bạn gái. Mỗi người đều có một cơ ngơi riêng, có người có công ty, có xe hơi đời mới. Và mỗi người đều âm thầm nuôi dưỡng vài nhóm trẻ mồ côi, nhưng họ giấu biệt thân phận. Tôi hỏi vì sao vậy, Hương nói: "Tụi nó sống ở địa phương, bị ràng buộc nhiều định kiến, mà quá khứ của tụi em đâu có khác gì nhau, thậm chí đời của nhiều đứa còn buồn hơn em gấp mấy lần. Chỉ có mỗi mình em chẳng giấu giếm gì, bởi em thấy đó là điều cần thiết, hơn nữa, em cũng chẳng biết mình còn sống được bao lâu với chứng bệnh ung thư".


Hương nói rằng cô đã nhờ luật sư làm xong thủ tục hiến xác cho một cơ sở y học khi cô qua đời. Đó là điều mà cô cảm thấy bình thản nhất. Chỉ tội nghiệp cho những đứa trẻ ở lại, trong gần hai trăm đứa đang sống ở trung tâm, có hơn 70 phần trăm bị khiếm thị, khát vọng lớn nhất của chúng là được nhìn thấy mặt mẹ Hương. Chúng hay thì thầm với nhau: "Chắc là mẹ Hương của mình đẹp lắm, trắng da dài tóc như một nàng tiên". Hương nói: "Mỗi khi nghe chúng nói với nhau như thế, em vừa thương chúng, vừa nghĩ: Ừ, mẹ Hương của tụi con là một nàng tiên mắc đoạ".


Võ Đắc Danh


“Trong một gia đình có một người khuyết tật đã là gánh nặng ghê gớm, ở đây Trung tâm nuôi hơn 100 cháu khuyết tật và các cháu mồ côi là một thành tích lớn rất đáng khen ngợi.


Tôi còn biết giám đốc Trung tâm là cháu Huỳnh Tiểu Hương là một con người từ nghèo khổ, lang thang đường phố đi lên trở thành một doanh nhân thành đạt. Cháu đã dùng toàn bộ tài sản, vốn liếng của mình để cưu mang những mảnh đời bất hạnh. Mặc dù đang mang trọng bệnh nhưng cháu vẫn xả thân vì việc nghĩa.


Tôi hết sức cảm động và quý mến cháu. Tôi mong các cơ quan đoàn thể chức năng tạo điều kiện cho Trung tâm đứng vững phát triển, đây là một địa chỉ từ thiện theo một mô hình mới nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo. Mong các nhà tài trợ, các nhà hảo tâm nới rộng vòng tay cưu mang các cháu khuyết tật”.


(Trích thư của nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu gởi Huỳnh Tiểu Hương nhân kỷ niệm 4 năm thành lập Trung tâm nhân đạo Quê Hương, ngày 7.12.2005


http://www.sgtt.com.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=651&news_id=14389#content