Năm học 2003-2004, lứa HS đầu tiên tham gia chương trình thí điểm THCS mới đã hoàn tất, sau bốn năm triển khai tại 11 tỉnh thành trong cả nước (mỗi tỉnh thành một quận, huyện). Trong thực tế, chương trình mới đã phản ánh được ít nhiều yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, phát huy tính tích cực, chủ động của HS, sách giáo khoa cũng giảm bớt tính hàn lâm với nhiều ứng dụng gắn liền với cuộc sống hơn... Thế nhưng, giữa mong muốn và thực tế vẫn đang có khoảng cách không nhỏ...


Thầy, trò cùng... đối phó!


Buộc đổi mới nhưng không phải ai cũng có khả năng “chạy theo” phương pháp giảng dạy mới. Cô Trương Thị Việt Thủy - hiệu phó Trường THCS Lê Quý Đôn, Q.3, TP.HCM - cho biết: “Có lần chúng tôi đi dự giờ giáo viên (GV). Dạy cho đoàn dự giờ thì GV dùng phương pháp mới, nhưng khi chúng tôi vừa ra khỏi lớp thì GV vội vã quay về phương pháp cũ đọc-chép cho kịp bài”. Nhiều cán bộ quản lý cũng nhìn nhận thói quen đọc-chép vội vàng truyền cho hết kiến thức bài giảng vẫn còn khá phổ biến, nhất là đối với những GV lớn tuổi.


Trong khi đó nội dung sách giáo khoa cũng chưa phải hoàn chỉnh. Theo cô Việt Thủy, kết cấu chương trình môn văn còn khá nặng. Có những buổi có hai tiết học liền nhau học hai văn bản cùng lúc, nên HS tỏ ra rất đuối vì phải soạn hai bài một lượt với khoảng 10 câu hỏi gợi ý rồi phải học ghi nhớ mà có những ghi nhớ rất dài. GV có khi trong năm tiết phải dạy năm văn bản... Chưa kể thời gian ít, không đủ thời gian cho việc tổ chức những hoạt động theo yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy.


Sự ôm đồm kiến thức còn thể hiện ở nhiều môn học khác. Ở môn vật lý, thầy Phùng Văn Thiên, GV mạng lưới bộ môn lý quận 3, cho biết lượng kiến thức trong một tiết học khá nhiều, khó truyền thụ hết nên GV phải giảng nhanh cho kịp giờ, và do chưa kịp làm thí nghiệm nên nhiều HS hiểu bài không sâu. Nhiều lần như vậy dồn lại khiến giờ học không khỏi tạo áp lực nặng nề cho những HS vốn tiếp thu chậm. Ở lớp 8, 9, chương trình còn đưa ra khá nhiều bài tập ở mức độ cao trong khi ở các tiết học chính khóa, GV và HS chỉ kịp lướt qua, ít có thời gian đi sâu và luyện tập.


Cách dạy mới yêu cầu HS phải tăng cường khả năng tự học và tư duy, nhưng khoảng 30% HS vẫn tỏ ra thụ động, dựa dẫm vào thầy. Đây cũng là lý do khiến môn lý từ lớp 6 đến lớp 8 dù chỉ học 1tiết/ tuần (nghĩa là được xem nhẹ) nhưng HS vẫn rủ nhau đi học thêm (!).


Một nội dung khác cũng được giáo viên nhắc đến nhiều là việc dạy học tự chọn (DHTC). DHTC bắt đầu thực hiện từ lớp 8 nhưng sau một năm thử nghiệm, đã bộc lộ nhiều điều bất cập. Theo Bộ GD-ĐT, mục tiêu của việc DHTC là “nhằm thực hiện phân hóa dạy học và dạy học hướng tới cá nhân qua việc củng cố, bổ sung và khai thác sâu chương trình các môn học của cấp học và của các ban khác nhau theo nhu cầu, nguyện vọng của HS...”. Tuy nhiên thực tế do có những khó khăn về phòng ốc, về GV và cả tài chính để có thể thực hiện thêm những môn năng khiếu theo đúng sở thích của HS nênn hiều trừơng chỉ chọn các môn học căn bản để dạy là chính. Vì vậy DHTC theo nhiều cán bộ quản lý không khác mấy so với công tác phụ đạo và bồi dưỡng theo một chủ đề được nhà trường đưa ra, mà như vậy cũng có nghĩa HS phải gánh thêm trên 70 tiết học/năm ở trường và không dưới thời gian trên ở nhà.


Bên cạnh đó, DHTC vẫn được đánh giá xếp loại và có ảnh hưởng không ít đến kết quả học lực chung. Chính vì thế chỉ sau một năm đầu còn bỡ ngỡ, sang năm thứ hai học sinh đã biết cách đối phó mà thống kê số lượt HS lựa chọn môn học của năm học 2003-2004 và học kỳ I năm 2004-2005 ở Trường THCS Bàn Cờ là một dẫn chứng khá rõ. Một số môn khó lấy điểm như toán, Anh văn, vật lý, hóa học... số HS chọn học giảm đáng kể (toán từ 664 còn 118 lượt; Anh văn giảm từ 286 còn 78 lượt, hóa học từ 219 còn 168...) trong khi cá môn nhẹ nhàng hơn như thể dục tăng từ 173 lên 364 lượt, âm nhạc từ 174 lên 332, mỹ thuật từ 137 lên 185, giáo dục công dân từ 26 lên 150...


Đồ dùng dạy học: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi”!


Thực hành nhiều là một ưu điểm của chương trình, sách giáo khoa mới và tất nhiên thực hành thì phải có đồ dùng dạy học (ĐDDH). Thế nhưng, ĐDDH lại luôn là chuyện “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”! Nhiều ĐDDH được các trường nhận về có chất lượng kém, mau hư hỏng, không đạt hiệu quả thí nghiệm cũng như giảng dạy (như đồng hồ bấm giây, xà nhảy cao... môn thể dục; bình áp suất, quả nặng đo lực ma sát... môn vật lý lớp 8; ống đo ưa, la bàn, quả địa cầu - môn địa...); chưa chính xác, chưa mang tính mỹ thuật (tranh thường thức mỹ thuật nhưng nhòe nhoẹt, tối...) Thầy Phùng Văn Thiên cũng cho biết do nhiều ĐDDH không thích hợp để HS thực hành nên GV đành phải trở lại với phương pháp dạy.. truyền thống. Ngoài ra, do ĐDDH chưa đáp ứng đủ nhu cầu giảng dạy nên buộc GV phải tự làm lấy hoặc yêu cầu HS về làm hay sưu tầm. Tất nhiên, tự làm ĐDDH phải mất khá nhiều thời gian, công sức, tiền bạc của cả thầy lẫn trò nhưng ít đạt hiệu quả cao do thiếu tính mỹ thuật, khoa học.


Tuy thế, không ít lần sự nhiệt tình của những GV tham gia thí điểm chương trình mới lại rơi vào sự thờ ơ của Bộ GD-ĐT. Ông Hà Thúc Phú, nguyên trưởng Phòng GD-ĐT quận 3, bức xúc kể: “Qua thực tế giảng dạy, hằng tháng, hằng quí chúng tôi đều có những đề xuất, kiến nghị gửi Bộ GD-ĐT. Bộ hứa sẽ chỉnh sửa, thay đổi nhưng rồi sách giáo khoa mới in lại cũng mắc những lỗi y hệt như cũ, chẳng có gì thay đổi”. Đa số cán bộ quản lý ở quận 3 mà chúng tôi được tiếp xúc ở nhiều năm thí điểm còn nghi vấn: “Không biết Bộ GD-ĐT có đọc những góp ý của chúng tôi gửi về không?”.


(Tuổi Trẻ 15/12/2004)