Con số nợ của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại các ngân hàng thương mại Việt Nam tính đến hết tháng 9/2011 khiến không ít người giật mình. Vì con số 415.347 tỷ đồng (tương đương 19,78 tỷ USD) chiếm 16,9% tổng nợ ngân hàng. Một nửa trong số đó (218.738 tỷ đồng, tương đương 10,4 tỷ USD, bằng 8,76% tổng nợ ngân hàng) tập trung vào 12 tập đoàn nhà nước lớn nhất.
Trong đó, 4 tập đoàn nợ nhiều nhất là PVN nợ 72.300 tỷ đồng (3,44 tỷ USD), EVN nợ 62.800 tỷ đồng (2,99 tỷ USD), TKV nợ 20.500 tỷ đồng và Vinashin nợ 19.600 tỷ đồng.
Thực tế này đã đặt ra yêu cầu bức thiết về cải cách khối doanh nghiệp này nhằm minh bạch hóa thông tin và tạo hiệu quả hoạt động từ nguồn lực này.
Nợ nhiều, hiệu quả thấp
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, những số liệu này chỉ là các khoản vay và nợ ngân hàng, chứ chưa tính đến nợ từ trái phiếu phát hành và các hình thức nợ khác. Vì vậy, tổng nợ của các DNNN trên thực tế sẽ cao hơn nhiều. Trên thực tế, 30 trong số 85 DNNN có hệ số nợ/vốn chủ sở hữu trên 3 lần.
Mặc dù tổng số nợ cao như vậy nhưng mức độ đóng góp của khối DNNN vào GDP cả nước cũng không thay đổi nhiều. Cũng theo thông tin từ Bộ Tài chính tại cuộc họp thường kỳ của Chính phủ diễn ra hồi tháng 4/2012, tại thời điểm tháng 11/2011, có 1.309 DNNN gồm 11 tập đoàn, 11 pháp nhân đặc biệt và 74 công ty. Tổng tài sản đạt 1.760.000 tỷ đồng (83,30 tỷ USD); vốn chủ sở hữu là gần 700.000 tỷ đồng (33 tỷ USD). Vào năm 2010, DNNN đóng góp 34% GDP. Mặc dù chưa có số liệu năm 2011, nhưng theo đánh giá của giới chuyên gia, mức độ đóng góp của các DNNN vào GDP cũng không thay đổi nhiều.
Một con số nữa cũng cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của khối DNNN kém hiệu quả nhưng lại chiếm đa số nguồn lực của nền kinh tế. Theo Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, các DNNN chiếm 70% tổng đầu tư trong nền kinh tế, chiếm 50% tổng vốn đầu tư của Nhà nước, chiếm 60% tín dụng ngân hàng, chiếm 70% nợ xấu tại các NHTM và chiếm 70% vốn ODA. Tuy nhiên, khối này lại không đem lại nhiều hiệu quả kinh tế.
Với những yếu kém của khối doanh nghiệp này, không ít lần Ủy ban Kinh tế của Quốc hội yêu cầu cải cách cấp thiết. Tuy nhiên, theo tổng kết của cơ quan này, sau 20 năm cổ phần hóa, tính đến thời điểm cuối năm 2011, chưa đến 15% tài sản của các DNNN chuyển đổi sang hình thức sở hữu khác.
Định hướng đã có, vấn đề còn lại là tốc độ tái cấu trúc của khối doanh nghiệp này cần phải được đẩy nhanh cùng với tiến độ giải quyết nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Đây là hai mặt của một vấn đề. Giải quyết một mặt vấn đề nghĩa là giải quyết mặt còn lại. Tuy nhiên, nếu xét đến nguồn lực và nguồn vốn trong nước hạn chế, quá trình này sẽ mất nhiều thời gian.
Đẩy mạnh cổ phần hóa
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, để đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu, Chính phủ nên tăng giới hạn sở hữu nhà đầu tư nước ngoài tại một số ngân hàng được nhất định. Thậm chí có thể dỡ bỏ các quy định hạn chế sở hữu nước ngoài cho một số, hoặc cho tất cả cổ phiếu niêm yết. Tuy nhiên, ý kiến về vấn đề này khá rời rạc và vẫn chưa có sự nhất trí rõ ràng.
Trên thực tế, khối DNNN đã có những quy định ràng buộc mới về phân loại. Cụ thể, toàn bộ các DNNN sẽ được phân loại thành DN loại A, B hoặc C tùy thuộc vào tình hình tài chính. Các DNNN lỗ và có tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu vượt quá mức độ an toàn quy định; lỗ vượt quá 30% vốn chủ sở hữu hoặc lỗ lũy kế vượt 50% vốn chủ sở hữu; có hệ số an toàn vốn dưới 0,5% hoặc công bố thông tin không chính xác về tình hình tài chính sẽ được đặt trong tình trạng giám sát đặc biệt. DNNN lỗ 2 năm liền sẽ phải tái cơ cấu, thay đổi hình thức sở hữu hoặc có thể phải tuyên bố phá sản.
Rõ ràng, quyết tâm giải quyết vấn đề DNNN về các khía cạnh bao gồm tính minh bạch cao hơn và một khung quy định dựa trên sự tham chiếu để đánh giá tình hình hoạt động của DNNN vẫn đang được tiến hành. Và kết quả tất yếu của các hành động này là nhu cầu tìm nguồn vốn mới (có thể bao gồm nguồn vốn nước ngoài), để đưa ngành ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế vào khuôn khổ bền vững hơn.