Việc dùng các từ ngữ sai nghĩa, để chúng biến thành nghĩa khác, làm cho tiếng Việt trở nên thiếu chính xác, kém ổn định và thiếu độ tin cậy. Việc dùng từ ngữ bóng bẩy mà không hàm chứa ý nghĩa thực sự bên trong, cũng làm cho ngôn ngữ trở thành hư văn.


Sính chữ Hán


“Tự” là một từ Hán – Việt có nghĩa là “chữ”; và khi đi kèm với tên người thì nó có nghĩa là “tên chữ”. Xưa kia, ngoài tên thật do cha mẹ đặt và bút hiệu (hay bút danh), các sĩ phu nho học thường đặt cho mình tên chữ để thể hiện tình cảm, ước nguyện hay chí khí thanh cao: Nguyễn Bỉnh Khiêm tự là Hanh Phủ, Nguyễn Du tự Tố Như và Thanh Hiên, Phan Bội Châu tự Hải Thụ, Phan Thanh Giản tự Tĩnh Bá và Đạm Như… Khi Nho học suy vi và chữ quốc ngữ được dùng thay, thì phong tục đặt tên chữ hầu như không còn nữa. Tuy nhiên, ngày nay chữ “tự” vẫn được một số người dùng theo mô thức của các cụ xưa, nhưng không phải cho giới trí thức thanh cao, mà cho những kẻ... sống ngoài vòng pháp luật. Thí dụ: Trương Văn Cam tự Năm Cam, Trần Văn Thuyết tự Thuyết Buôn Vua và Thuyết Trăm Voi… Rõ ràng, trong những trường hợp này chữ “tự” đã mang nghĩa tương đương với “biệt danh”.


Trong chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mỹ ở miền Bắc nước ta (1964 – 1972), “phi vụ” là một từ Hán – Việt xuất hiện nhiều, được dùng để chỉ “cuộc bay”. Khi ấy, các đài phát thanh thường xuyên loan tin: “Ngày… không lực Hoa Kỳ đã tiến hành phi vụ oanh tạc tại Bắc Việt, kết quả là…” Chiến tranh đã kết thúc và đất nước thống nhất từ lâu, nhưng trên báo chí luôn xuất hiện các “phi vụ” về mua bán và tàng trữ chất ma tuý, lừa bán phụ nữ ra nước ngoài làm gái mại dâm, bán hàng lừa đảo qua mạng, bắt cóc tống tiền, săn bắn và mua bán thịt thú rừng quý hiếm! Vì hiểu sai nghĩa của từ “phi vụ”, người ta áp dụng nó không đúng chỗ, khoác cho nó một vài nghĩa mới, để chỉ những vụ làm ăn cả bất chính lẫn rất đỗi bình thường!


“Công nguyên” là một danh từ Hán – Việt thường dùng trong lịch sử, là dạng rút gọn của thuật ngữ “Công lịch kỷ nguyên”, nghĩa là kỷ nguyên dùng lịch chung. Công nguyên bắt đầu từ năm sinh của Chúa Giêsu, kéo dài tới ngày nay và còn tiếp diễn trong tương lai. Vì vậy, từ năm Thiên chúa giáng sinh trở về trước là thời gian lịch sử “Trước Công nguyên” (tiếng Anh gọi là “Before Christ” – viết tắt là B.C); còn khoảng thời gian từ Thiên chúa giáng sinh cho đến nay, toàn thế giới đều gọi là “Công nguyên” (tiếng Latinh là “Anno Domini” – viết tắt là A.D). Riêng tại Việt Nam, do suy nghĩ đơn giản rằng đã có “trước” thì ắt có “sau” (mà quên rằng phải có “trong” rồi mới đến “sau”!), nên không ít người đã dùng thuật ngữ “Sau Công nguyên” (viết tắt là SCN) cho các sự kiện diễn ra trong Công nguyên. Thuật ngữ dùng sai này đã trở nên quen thuộc và chính thức được thừa nhận ở nước ta!


Lạm dụng thành ngữ


Ở miền Bắc thời chiến tranh, một thành ngữ mới ra đời: “Hiếm như mì chính cánh”. Hồi ấy cuộc sống của nhân dân rất đạm bạc, có rất ít thịt cho các bữa ăn, nên mì chính (người miền Nam gọi là bột ngọt) trở thành một loại gia vị quan trọng. Hầu hết mọi người chỉ được mua loại “mì chính bột” (dưới dạng những tinh thể nhỏ có chất lượng thấp), do Nhà nước bán theo tem phiếu với định lượng rất hạn chế. Chỉ một số thành phần đặc biệt mới được mua “mì chính cánh” (với các tinh thể lớn có chất lượng cao), khiến cho loại này trở nên đặc biệt quý hiếm và đắt tiền. Nến mới có chuyện: khi bà mẹ hỏi con trai về gia cảnh bạn gái của cậu, thì câu trả lời là: “Nhà cô ấy khá giả lắm, có cả một lọ... mì chính cánh to tướng!” Từ ngày đất nước thống nhất, bột ngọt được sản xuất và nhập khẩu rất nhiều, được bày bán tràn lan, trở thành loại gia vị thông dụng rẻ tiền. Cái giá trị đặc biệt của mì chính cánh đã mất, nên ý nghĩa của thành ngữ trên cũng không còn. Tuy vậy, một số cây bút vẫn điềm nhiên dùng câu ấy để ví von với những gì quý hiếm. Lạ hơn nữa, thế hệ trẻ được sinh sau 1975, vốn không biết gì về thời oanh liệt của thứ gia vị đặc biệt trên, cũng thường gọi những nhân vật lý tưởng hiếm có cho các cuộc hôn nhân là “mì chính cánh”! Thì ra người ta sính dùng câu chữ theo thói quen, mà không cần biết câu chữ đó còn có nghĩa hay không.


Nhà thơ Đỗ Phủ thời Đường ở Trung Quốc có câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, được Bác Hồ dịch chính xác là “Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm”. Ý nghĩa câu này hoàn toàn đúng vào thời đại của Đỗ Phủ, cách nay hơn một thiên niên kỷ. Thời ấy, người sống đến 50 tuổi đã được xem là thọ, 60 tuổi được gọi là kỳ lão, và đến 70 tuổi thì chính là “cổ lai hy”. Việc trích dẫn câu này cũng thật tuyệt diệu khi Bác Hồ sánh mình với người xưa để viết bản Di chúc bất hủ. Từ đó, hễ cứ viết về ai đó đúng hay xấp xỉ 70 tuổi, thì người ta gắn cái tuổi này vào “cổ lai hy” hoặc “xưa nay hiếm”. Nhưng tuổi thọ của con người ngày nay cao hơn xưa rất nhiều. Theo chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), tuổi thọ trung bình của người Nhật lên tới 83, còn của người Việt Nam (tháng 10.2010) đã là trên 74. Bởi thế, việc gắn cho lứa tuổi 70 ngày nay cái nhãn hiệu “cổ lai hy” hay “xưa nay hiếm” chỉ chứng tỏ rằng người viết thích dùng câu chữ có vẻ hấp dẫn, mặc dù trống rỗng về ý nghĩa.


TS GIÁO DỤC LÊ VINH QUỐC - MINH HOẠ: HỒNG NGUYÊN


http://sgtt.vn/Khoa-giao/141948/Sinh-tu-lam-ngu-chu-nghia-thanh-hu-van.html