Những ánh sao bất tử


24/07/2014


Để giữ vững mạch máu giao thông, với sự yểm trợ của các đơn vị pháo cao xạ và công binh quân khu, hơn 1.000 thanh niên xung phong được điều đến tuyến đường huyết mạch này, từ cầu Cơn Bạng đến Khe Giao với nhiệm vụ phá bom, làm đường, thông tuyến. Biết bao xương máu của quân và dân ta đổ xuống Ngã ba Đồng Lộc. Trưa 24-7-1968, một quả bom rơi xuống ngay sát miệng hầm, nơi 10 cô gái của tiểu đội 4, Đại đội 552 đang tránh bom. 10 cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh khi chỉ mới mười tám, đôi mươi … Nơi hào dài vừa đào xong, đồng đội tìm thấy 9 cô đã hy sinh nhưng thể xác vẫn còn nguyên như đang nằm ngủ: tiểu đội trưởng Võ Thị Tần, Nguyễn Thị Nhỏ, Dương Thị Xuân, Nguyễn Thị Hà, Trần Thị Hường, Võ Thị Hợi, Hà Thị Xanh và Trần Thị Rạng. Riêng tiểu đội phó Hồ Thị Cúc thì không thấy. Phải đến ngày thứ ba đồng đội mới tìm thấy thi thể của o Hồ Thị Cúc trên đồi Trọ Voi trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay bị ứa máu vì đang bới đất để tìm đường ra...


Giọng người dẫn đường kể lại câu chuyện xưa khiến tất cả đều bùi ngùi. Bỗng ai đó đọc lên câu thơ: "Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang/ Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp/ Chín bạn đã quây quần đủ hết/ Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh/ A trưởng Võ Thị Tần đã điểm danh/ Chỉ thiếu mình em/ Chín bỏ làm mười răng được” càng khiến những đôi mắt đỏ hoe và những bờ vai run lên từng nhịp khi được tận tay thắp nén hương thơm trên ngôi mộ các chị. Trong đoàn đi có rất nhiều cô gái trẻ, nhưng họ không sợ đêm tối âm u, không sợ cảnh rừng già vào đêm, tất cả như muốn nán lại, ngồi lâu hơn bên các chị để trò chuyện, tâm tình, để chăm chút cho "ngôi nhà riêng” của mỗi chị.


Rồi nước mắt lại rưng rưng, khi đứng trước phiến đá có khắc bài thơ "Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” của nhà thơ Vương Trọng:


Mười bát nhang hương cắm thế đủ rồi


Còn hương nữa hãy dành phần cho đất


Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi


Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc


Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp


Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.


Khi ngã ba Đồng Lộc đã lùi lại sau lưng, phía trước rừng già hun hút mà hình ảnh tượng đài, những ngôi mộ và tượng 10 cô trắng xóa vẫn chập chờn trước mắt, chúng tôi càng hiểu sao những đóa sim mua vì sao vẫn nở hoa trong cái nắng nóng miền Trung và đất đá sỏi cằn. Càng hiểu vì sao ánh đom đóm sáng như những ngôi sao xanh nhỏ nhoi mà gợi nên cảm giác bền bỉ, mãnh liệt đến như vậy. Đó là tinh thần của 10 cô cũng như hàng vạn thanh niên xung phong đã ngã xuống, hòa vào cỏ cây trời đất nơi đây mà trở thành bất tử.


Như Trang


Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc


– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi


Còn hương nữa hãy dành phần cho đất


Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi


Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc


Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp


Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.


– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa


Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ


Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá


Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về


Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống


Các chị nằm còn khát bóng cây che.


- Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào


Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc


Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc


Về bón chăm cho lúa được mùa hơn


Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo


Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.


– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều


Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu


Ngày bom vùi tóc tai bết đất


Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được


Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang


Cho mọc dậy vài cây bồ kết


Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.


Đồng Lộc, 5 – 7- 1995


Vương Trọng