Hiện Việt Nam đang triển khai 3 dự án đường cao tốc trọng điểm có sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài như cao tốc Nội Bài - Lào Cai, cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và dự án cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây.
Khối lượng xây lắp của ba dự án này do các nhà thầu nước ngoài trúng thầu và thực hiện chiếm gần 90% khối lượng xây lắp của các dự án. Tuy nhiên, dù Bộ GTVT đã kiểm tra, chỉ đạo nhưng hiện các dự án vẫn đang chậm tiến độ, ảnh hưởng đến việc hoàn thành theo kế hoạch đã đề ra. Cụ thể, chậm nhất hiện nay là dự án cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Dự án có chiều dài 244km, với tổng mức đầu tư gần 20.000 tỷ đồng, từ vốn ODA do Tổng công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) vay của ADB và vốn đối ứng. Dự án hiện do các nhà thầu Posco E&C, nhà thầu Doosan, nhà thầu Keangnam Enterprise của Hàn Quốc và nhà thầu công ty cầu đường Quảng Tây (Trung Quốc) đảm nhiệm. Được khởi công từ tháng 9-2009, theo kế hoạch dự án sẽ hoàn thành vào năm 2013, nhưng đến nay ( 6-2012), trừ gói thầu A7, các gói thầu đều chậm tiến độ.
Ông Mai Tuấn Anh, Tổng giám đốc VEC cho biết, nhà thầu thi công yếu kém về năng lực, phương tiện huy động ra hiện trường không đầy đủ theo yêu cầu. “Máy móc, thiết bị cũng như nguyên vật liệu chỉ đáp ứng được 50%. Lực lượng quản lý hiện trường cũng thiếu. Gói thầu A1 và A3 đã phải thay giám đốc dự án. VEC đã họp với các nhà thầu tháo gỡ nhiều lần, nhưng thời gian đã gần hết mà khối lượng công việc còn nhiều”. Ngoài ra, gói thầu A5 hiện mới đạt 5% khối lượng công việc, tại gói thầu này đã thay đến 3 lần giám đốc dự án. Do vậy, ông Tuấn Anh cho rằng, sẽ kiến nghị Bộ GTVT cùng nhà tài trợ thay thế nhà thầu Keangnam do sự yếu kém trong năng lực.
Đáng chú ý, một thực tế khiến tiến độ thi công chậm là do năng lực tài chính của các nhà thầu tại ba dự án trên đều không như công bố. Mới đây khi kiểm tra trực tiếp trên công trường Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã khẳng định: “Sẽ kiên quyết không điều chỉnh tiến độ. Nếu các nhà thầu không thực hiện đúng tiến độ, các nhà thầu sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm theo các điều khoản trong hợp đồng đã ký”.
Các nhà thầu xây dựng nước ngoài sau khi bằng mọi giá để trúng thầu xây dựng tại Việt Nam, làm ăn bê bối, nhiều khi bỏ của chạy lấy người, để lại hậu quả nặng nề cho các chủ dự án, chủ đầu tư, đã xảy ra nhiều năm nay, nhưng đến thời điểm này vân không khắc phục được.
Nhà thầu bê bối
Dự án thủy điện Dakr’tih có tổng công suất 144 MW, gồm 4 tổ máy, sản lượng điện dự kiến hơn 600 triệu kWh/năm, tổng vốn đầu tư gần 4.400 tỉ đồng. Để thực hiện DA, năm 2007, Tổng Công ty xây dựng số 1 (CC1) đã tổ chức đấu thầu quốc tế và IWHR (Trung Quốc) trúng thầu gói “cung cấp và lắp đặt thiết bị cơ - điện chính” với tổng giá trị hợp đồng (HĐ) là 15,24 triệu USD và 2,64 tỉ đồng. Hợp đồng yêu cầu nhà thầu phải hoàn thành 4 tổ máy trước ngày 20-7-2011. Tuy nhiên, tiến độ trên thực tế rất chậm trễ, và đến thời hạn cuối, ngày 20-7, sau khi mới hoàn thành một phần chương trình vận hành thử nghiệm của 2/4 tổ máy, IWHR đã đơn phương rút các chuyên gia kỹ thuật quan trọng khỏi công trường; đồng thời, không có kế hoạch cung cấp vật tư còn thiếu, không đệ trình quy trình và chương trình thử nghiệm, tiến độ và kế hoạch thực hiện các công việc tiếp theo...
Không dừng ở đó, IWHR còn liên tục đưa yêu sách đòi CC1 phải thanh toán ngay 10% giá trị hợp đồng. Hiện tại, CC1 đã thanh toán cho nhà thầu đến 85% giá trị thiết bị theo đúng HĐ. Trong 15% giá trị còn lại, nhà thầu sẽ được thanh toán 10% sau khi hoàn thành công trình phù hợp với quy định của hợp đồng và nhận được chứng chỉ bàn giao công trình từ CC1. Còn lại 5% sẽ được thanh toán sau khi hết thời hạn bảo hành (2 năm kể từ ngày nghiệm thu). Tuy nhiên, dù công việc còn dở dang, IWHR lại ra “tối hậu thư” cho rằng nếu không thanh toán 10% giá trị thì họ không chấp nhận đàm phán để tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Và tháng 7-2011 Tổng công ty Xây dựng số 1 - TNHH MTV (CC1, thuộc Bộ Xây dựng) vừa chính thức cắt (HĐ) với nhà thầu Trung Quốc (TQ) Beijing IWHR Corporation (viết tắt IWHR) thi công (DA) thủy điện Dakr’tih (TX Gia Nghĩa, Đắk Nông). Đây được xem là động thái quyết liệt đầu tiên của một trong số các chủ đầu tư (CĐT) VN trước những hậu quả do một số nhà thầu TQ gây ra đối với các dự án thủy điện, nhiệt điện, hóa chất, thủy lợi và hạ tầng của VN thời gian qua.
Cái tên nhà thầu CSCEC - Tổng Công ty Xây dựng Quốc gia Trung Quốc - không còn xa lạ gì ở Việt Nam khi nhà thầu này gây ra hàng loạt vụ bê bối trong thi công các công trình.
Dự án cải tạo kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè là một dự án lớn tại TP. Hồ Chí Minh. Trong dự án này, nhà thầu CSCEC nhận thi công gói thầu số 10, gói thầu quan trọng nhất, “xương sống” của toàn dự án, tiến hành nạo vét 1 triệu m3 bùn, gia cố đất và lắp đặt cừ bản ven kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè, nhằm làm sạch lòng kênh, phục vụ nhu cầu thoát nước và môi trường của hàng triệu người dân tại trung tâm TP. Hồ Chí Minh.
Tại gói thầu này nhà thầu liên tục bị nhắc nhở khi thi công vô cùng ì ạch, bê bối. Đến ngày 2-3-2011, Ban quản lý dự án Vệ sinh môi trường TP. Hồ Chí Minh lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè đã thông báo chấm dứt hợp đồng với nhà thầu xây dựng CSCEC. Nhà thầu này còn “dính” tiếp vụ thi công gói thầu xâu dựng 16 cây cầu trên QL1 Cần Thơ về Cà Mau. Trong gói thầu này, CSCEC đã trúng thầu xây dựng 9 cây cầu (gói thầu 2A). Dù khởi công rầm rộ từ năm 2007, nhưng sau 3 năm thi công đơn vị này chỉ hoàn thành được 3 cây cầu còn lại 6 cây cầu rơi vào tình trạng … im thin thít . Để nhanh chóng hoàn thành dự án, Ban Quản lý dự án thuộc Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã buộc phải cho CSCEC thanh lý hợp đồng trước hạn và chuyển 6 cây cầu còn lại cho nhà thầu mới là Công ty Cổ phần Đạt Phương và Công ty Cổ phần Bê tông 620 Châu Thới thi công.
Nhà thầu CSCEC cũng để xảy ra những vụ tai nạn lao động nghiêm trọng cho công nhân, điển hình là vụ tai nạn tại công trường Melberry Lane thuộc khu đô thị Mỗ Lao, phường Mỗ Lao, quận Hà Đông, Hà Nội vào ngày 21-2-2012.
Các thủ đoạn để tranh dành hợp đồng thầu chính, sau đó bắt ép chủ đầu tư tăng chi phí của các nhà thầu Trung Quốc rất nhiều. Ông Lê Hữu Việt Đức - Phó tổng giám đốc CC1 cho biết, “ Với hầu hết DA do nhà thầu TQ thi công, họ gần như bỏ phần bảo hành hoặc dây dưa không thực hiện trách nhiệm bảo hành. Thậm chí, nhà thầu TQ còn kéo dài cả những công việc đương nhiên phải hoàn thành theo đúng HĐ. Mặt khác, các nhà thầu TQ thường cung cấp các phần mềm điều khiển thiết bị công nghệ mà trong đó thời gian sử dụng chỉ giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn sau khi bàn giao công trình. Điều này nhằm gây áp lực với CĐT để đòi thêm chi phí bản quyền phần mềm. Trong khi theo đúng nguyên tắc HĐ, nhà thầu phải bàn giao toàn bộ công nghệ, kể cả bản quyền các phần mềm điều khiển cho suốt tuổi thọ của DA. Vì vậy, đã có CĐT rơi vào trường hợp chỉ sau một thời gian vận hành, nhà máy ngưng hoạt động và lại phải tốn chi phí mời nhà thầu TQ sang sửa phần mềm”.
Còn nhiều nữa. Trong quá trình dự thầu, nhà thầu TQ thường dùng cách bỏ giá rẻ. Tuy vậy, thực tế bao giờ họ cũng có sự toan tính phân bổ giá trị trong từng hạng mục gói thầu sao cho có lợi nhất và lách được quy định của VN. Chẳng hạn, theo quy định, những phần việc VN làm được thì phải giao cho nhà thầu VN. Nhưng cách của nhà thầu TQ là những phần việc họ làm được (cung ứng thiết bị) thì họ bỏ giá rất cao, phần việc sẽ đàm phán với nhà thầu VN (lắp đặt, gia công) thì bỏ giá rất thấp, thấp đến mức nhà thầu VN không thể chấp nhận được. Khi đó, với lý do không tìm được nhà thầu VN, họ bắt đầu ồ ạt đưa nhân công từ TQ qua. Vì giá nhân công của họ rất rẻ nên tổng giá gói thầu thấp.
Hơn nữa, qua nhiều tình huống thực tế xảy ra trên công trường cũng cho thấy sự thiếu hợp tác và năng lực hạn chế của nhà thầu TQ. “Trong quá trình làm việc, nhà thầu TQ luôn chậm trễ trong việc cung cấp vật tư kéo theo việc lắp đặt các tổ máy bị chậm trễ. Ngoài ra, một số chuyên gia TQ không có trình độ cao, khi xảy ra sự cố gì về kỹ thuật họ đều phải gửi về TQ xin ý kiến. Thậm chí có những việc rất nhỏ cũng phải chờ đợi rất mất thời gian. Có những vướng mắc tại hiện trường, chuyên gia TQ xin phép bay về nước để xin ý kiến mất 5 - 7 ngày, thậm chí đã có trường hợp mất vài tuần nhưng vẫn không xử lý được. “Đến nỗi chúng tôi sốt ruột quá phải đứng ra tự xử lý và chấp nhận không bảo hành phần việc đó, mà khi mình tự làm chỉ mất 15 phút”, ông Đức nói.
Tìm tới
Trang bình luận
/ 2
Ham đồ rẻ thì người dân nước nào chả ham. Bọn...
tàu nó thối 1, thì nhà mình nó thối 10 các mợ ạ!
tại sao tranh chấp trên biển Đông...
Có bắt em vu em tội phản động thì em vẫn chửi đấy!
Toshiba đứa nào...
Chắc bạn í đá đểu thôi. Vì các CT đó toàn chậm tiến độ. Còn việc nhập khẩu bi giờ đúng là VN...