Ngày nhỏ, lũ trẻ con chúng tôi thường truyền tai nhau câu: “Cu kêu ba tiếng cu kêu/Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè”.


Nếu muốn được ăn chè thì phải chờ tới Tết. Vì chỉ tới Tết mọi nhà mới nấu chè, một phần cũng vì đời sống còn khó khăn nên không phải lúc nào muốn ăn cũng được. Tết Thanh minh thì ăn chè xôi nước (chè trôi nước); tết Đoan Ngọ thì ăn chè đậu đen, đậu đỏ; tết Nguyên đán chì được ăn chè con ong, chè bà cốt…


Chẳng ai biết chè có tự khi nào, nguồn gốc từ đâu, do ai đặt tên nhưng từ xa xưa những món chè đã được mọi người biết đến ở khắp mọi nơi, và cả trong những câu ca dao xưa mộc mạc giản dị, chè cũng xuất hiện một cách tự nhiên và bình dị: “Mặc dù cha đánh mẹ đe/Em đây chẳng bỏ bát chè ngọt ngon”. Hay “Ăn trầu thì phải có vôi/Cúng rằm thì phải có xôi có chè”.



Chè bà Ba được coi là thứ chè thập cẩm đặc trưng nhất, có từ lâu đời và được nhiều người biết đến với hương vị tổng hợp của nhiều nguyên liệu thơm ngon.



Những món ăn theo thời gian vẫn còn đọng lại trong tâm thức của mỗi người, trong đó có món chè. Ngày nay, chè đã trở nên phổ biến là một nét văn hóa của người Việt. Ở bất kỳ đâu và bất kì thời điểm nào, nếu muốn chúng ta có thể thưởng thức những món chè ngon ngọt, đa dạng, phong phú và hợp với khẩu vị của mình.


Tên “chè” thường ghép với các nguyên liệu để tạo nên tên một thứ chè. Từ đó, ta có vô số các loại chè, như chè bắp, chè bông lau, chè bột báng, chè bột năng, chè bột lọc, chè bột khoai, chè củ năng, chè củ mài, chè củ từ, chè củ súng, chè vừng, chè kê, chè mè đen, chè đậu đãi, chè đậu phọng (chè lạc), chè chuối. Bên cạnh đó, chè còn có những thành phần mặn hòa với chất ngọt tạo nên các loại như chè lạp xường, chè thịt quay, chè trứng đỏ, chè trứng trắng, chè trứng cút, chè bột lọc thịt quay, …


Cái tên chè cũng đa dạng như chính thành phần của nó. Có những cái tên được nhắc tới như một món chè dân gian như chè bà cốt (hay còn gọi là chè con ong), chè bà ba,... Chè bà cốt được nấu với gạo nếp (nếp nấu thành cháo loãng), mật hòa với gừng giã nhỏ lấy nước cốt, đổ vào cháo nấu thành chất sền sệt rồi múc vào từng chiếc bát nhỏ, ăn nóng hay nguội đều được.


Chè bà cốt được ăn vào mùa đông. Thường là trong những ngày tết Nguyên đán, người ta thường nấu chè bà cốt để cúng tổ tiên. Ngày nay, ở nhiều nơi vẫn còn giữ được phong tục này, nhưng bên cạnh đó họ còn nấu nhiều loại chè khác để cái tết được sung túc và đủ đầy hơn.



Ngày nay, có vô số các loại chè với nhiều nguyên liệu phong phú, đa dạng phù hợp với khẩu vị của từng người.


Còn món chè bà ba thì được nấu với đậu xanh hấp chín, khoai lang cắt thành miếng vuông, bột năng xắt thành sợi, đậu phọng luộc chín, lá dứa vắt lấy nước hòa với bột khoai mì, vắt thành viên tròn rồi đem luộc chín, tất cả nấu với nước dừa …


Nói về việc thưởng thức món chè, dân gian ta có câu “chè trên cháo dưới” để nói lên cái sành ăn uống của người xưa, vì chè phải ăn trên mặt mới ngọt (nhiều đường), cháo ăn dưới đáy có nhiều thịt cá mới ngon!


Ngày nay, chè đã không còn gì xa lạ trong đời sống mỗi người. Với những nguyên liệu, cách chế biến độc đáo, mỗi vùng miền lại có một thứ chè đặc trưng mang hương vị, giá trị dinh dưỡng và nét văn hóa ẩm thực riêng của nơi đó. Và khi thưởng thức những loại chè ấy, mỗi người sẽ có những cảm nhận thú vị riêng của mình.


Phương Lam


http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Mon-che-trong-van-hoa-am-thuc-cua-nguoi-Viet/51001