Hôm nay thì chưa, vì các tiến bộ kỹ thuật diễn ra dồn dập không ai đếm nổi, nhưng rồi sẽ có lúc các nhà biên sử sẽ phải đưa ngày tháng ấy vào một trang hoành tráng trong lịch sử kỹ nghệ giải trí của nhân loại. Đúng ngày 1/7/1979 một cuộc cách mạng nổ ra trên đường phố Nhật Bản, và phần cuối của nó chưa thể đoán được. Kỹ thuật mới có một cái tên trúc trắc khó nhớ TPS-L2, là một hộp nhựa màu xanh tím, nặng ngót 4 lạng và to gần bằng cục gạch. Chiếc Walkman đầu tiên của Sony.
Vấn đề không chỉ là một kỹ thuật mới ra đời, mà cả một nền văn hóa chưa từng có, một nếp sống hoàn toàn mới. Giới trẻ có thêm một đồ chơi và một thứ “gây nghiện“ mới. Chắc hôm nay hàng người rồng rắn đợi từ đêm trước để chen nhau mua chiếc iPhone hay iPad đời mới ra sao thì cơn sốt Walkman ngày đó còn dữ dội gấp đôi. Người ta chuyển địa điểm thưởng thức âm nhạc từ phòng khách ra ngoài trời, lên tàu hỏa, tới cơ quan. Cuộc sống riêng tư diễn ra giữa phố mà người bên cạnh cũng không thể nghe thấy. Và cái bản mặt của người đang nghe Walkman mới nghênh nghênh đáng ghét làm sao: lờ tịt thế giới xung quanh, lẩm nhẩm điệu nhạc không ai biết, và bịt tai trước mọi tiếng động trên đời. Chẳng mấy chốc, chiếc Walkman chiếm vị thế đầu bảng trong quầy hàng đồ điện tử giải trí, giúp người ta phiêu diêu trên tận mây xanh trong khi đôi chân vẫn cắm chặt trong thế giới buồn tẻ này.
Từ Tokyo tới New York, từ Bắc Kinh đến Nam Phi, ai ai cũng đội cái tai nghe bọc bọt bể và sống riêng trong thế giới của mình, cho dù họ vẫn cùng nhau hiện thân về vật lý trong cùng toa tàu điện ngầm hay trượt patin.
Người còn đó, đầu để tận đâu
Ngày ấy chưa ai quan tâm đến việc âm thanh dội trực tiếp vào màng nhĩ có hại ra sao, và có lẽ chẳng ai thèm biết, một khi họ cầm trong tay cái hộp Cassette khả dĩ thống trị thế giới. Cái thế giới mà giờ đây chỉ còn nghe theo 4 lệnh: Start, Stop, Fast Forward và Rewind. Một khảo cứu khoa học năm 1995 cho thấy, một phần tư các thanh thiếu niên nghe Walkman bị tổn hại thính giác rõ rệt. Nhà nghiên cứu văn hóa và nhân loại học Werner Mezger năm 1985 viết trong một cuốn sách với nhan đề Sàn nhảy và Walkman như sau: Xét cho cùng, chiếc Walkman là một khả năng phi lý để tạo ra sự cô đơn trên nền nhạc trong khi đang ở giữa những người khác. Mezger quan sát các tín đồ Walkman ở tuổi thanh thiếu niên và nhận ra “người họ còn đấy, nhưng đầu óc để tận đâu. Họ lơ ngơ lạc lõng giữa thế giới này, tạo ra một trong những hiện tượng đặc thù nhất của thế kỷ 20 đang dần khép lại“.
Thế là còn nhẹ. Ở Anh, nhà xã hội học Vincent Jackson miêu tả hiện tượng sử dụng Walkman trên tàu hỏa hồi 1994 trong cuốn Menace II Society như sau: “Ta ấn nút Start. Xoạch! Ánh mắt của mọi người xung quanh xói vào ta, lạnh như băng, như muốn nói: mày là thằng khốn, là kẻ lạc loài, là cặn bã của xã hội". Báo chí còn ghi lại trường hợp một gã Andrew Dunn nào đó từ North Yorkshire, chỉ vì thú vui vô tư của mình mà phải dốc cạn hầu bao: Tòa sơ thẩm tuyên phạt 300 bảng, vì gã nghe Walkman quá to trên phương tiện giao thông công cộng.
Mối xung đột giữa cuộc sống riêng tư và xã hội bên ngoài đã không được Akio Morita, đồng sáng lập tập đoàn Sony, đánh giá đúng mức. Lập tức người ta sửa sai bằng cách tung nút nghe cắm trong tai (earphone) ra thị trường, nó bảo đảm nghe nhạc tập trung hơn và chủ yếu trông nhỏ hơn tai nghe có gọng (headphone), ít làm xung quanh để ý lườm nguýt hơn.
Nghe Walkman là hành vi chính trị!
Nhiều người vẫn cho dàn nhạc stereo di động mang tên Walkman ấy chỉ dùng cho những kẻ đơn độc hoặc xa lánh xã hội, ưa thú vui cá nhân hơn đối thoại với nhân loại quanh mình. Giáo sư sử học Mỹ Mark Noll thậm chí còn đổ cho Walkman một tội tày đình là làm giảm uy lực của Chúa. Tiếng nhạc thường trực trong tai, theo ông, sẽ là một sự cạnh tranh không nhất thiết phải có đối với lời giáo huấn của Chúa.
Ngày ấy nhà cầm quyền Trung Quốc cũng nghi ngại thứ sản phẩm văn hóa đến từ phương Tây đồi trụy ấy. Người dân lương thiện thì nên nghe chung các làn điệu phát ra từ loa công cộng, mọi hành vi hướng về cá thể đều bị săm soi. Không hiếm thanh thiếu niên bị gán tội “phá hoại ngầm“ chỉ vì không “hòa mình vào tập thể“ khi thưởng thức âm nhạc.
Nhưng bất kể ở Trung Quốc, châu Âu, Nhật hay Mỹ, cuộc bành trướng của Walkman không sao ngăn nổi nữa. Nhờ giá ngày càng hạ và dễ điều khiển, Walkman tìm đến được với mọi tầng lớp xã hội trên toàn thế giới. Mặc cho bất đồng ngôn ngữ, ai ai cũng đọc được chữ Anh “Walkman“, kể cả những người chẳng bao giờ dùng nó. Vậy mà ban đầu nó có đủ thứ tên: “Stowaway“ ở Anh, “Soundabout“ ở Hoa Kỳ, “Freestyle“ ở Thụy Điển...
Thế hệ sau, WM-2, với 2,5 triệu máy bán ra, trở thành chiếc máy Walkman bán chạy nhất mọi thời, nhưng cũng không cứu được Sony khỏi cuộc khủng hoảng tài chính. Một phần cũng vì hàng giả hàng nhái mọc ra như nấm sau mưa. Trong vòng 2 năm đã có hơn 50 mẫu Walkman na ná nhau xuất hiện.
Ngày tàn của Walkman
Hôm nay Walkman chỉ còn là biểu tượng cho sự hoài cổ, bị đè bẹp bởi các phát minh liên tục mới hơn. Từ “cục gạch“ chạy băng xè xè, nay nó đã trở thành máy MP3 mỏng dính. Chưa bao giờ thấy nhiều người đi lại ngoài đường với earphone như hôm nay. Với dung lượng bộ nhớ lên tới tối đa 160 Gigabyte, chiếc máy MP3 chứa được hơn 4 vạn bài hát - nhiều hơn một vali đầy Cassette ngày xưa. Và ngọn cờ đầu Sony cũng phải nhường chỗ cho các đối thủ trẻ khỏe hơn.
Sony đi nước cờ sai khi đổ quá nhiều tiền vào nghiên cứu tiếp Walkman thế hệ sau mà quên khảo sát thị hiếu của thanh thiếu niên. MP3 chưa chào đời được bao lâu thì chiếc iPod của Apple đã nhảy lên ngôi thống soái. Chủ tịch tập đoàn Sony Ryoji Chubachi phải thú thật là đã tính sai khi chăm chăm cải tiến Walkman và khinh thường quả táo khuyết. Walkman chạy MP3 của Sony tuy có pin sống dai và tạo dáng không kém iPod, nhưng trên sạp máy nghe nhạc bỏ túi chỉ có 10% in mác Sony, trong khi Apple nuốt gọn 77% miếng bánh.