Những nghiên cứu thực nghiệm này cho thấy rằng dinh dưỡng trong những năm đầu đời có 1 tác động to lớn lên sức khỏe ở giai đoạn mới trường thành, đáng chú ý nhất là nguy cơ về các bệnh tim mạch, xương và các chức năng về nhận thức.
Những phát hiện mới này có ứng dụng lớn về mặt sinh học, xã hội và y học và sẽ được dùng để xây dựng các quy tắc về chăm sóc sức khỏe.Dinh dưỡng và phản ứng của cơ thể đối với bệnh tật
Chẳng hạn như, sử dụng sữa mẹ so với sữa công thức có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc viêm ruột hoại tử
- trong 1 nghiên cứu lớn về trẻ sinh non dưới 1850 g, đối với trẻ được uống sữa công thức thì tỷ lệ mắc bệnh là 7.2% , đối với trẻ được uống sữa mẹ thì tỷ lệ mắc bệnh là 1.2%. Mối quan hệ này đặc biệt rõ ràng khi thai nhi trên 30 tuần, khi này các yếu tố khác sẽ ít tác động hơn. Đối với trẻ sinh thiếu tháng, nhóm được uống sữa mẹ mắc bệnh viêm ruột hoại tử chỉ chiếm tỷ lệ 1/20 so với nhóm được uống sữa công thức. Ngoài ra, theo 1 cuộc khảo sát quy mô toàn quốc gia ở Anh, trẻ được uống sữa mẹ bị tử vong chỉ chiếm 5% trong khi con số này lên đến 26% ở trẻ uống sữa công thức ( thông tin này chưa được công bố ).
Sức khỏe và sự phát triển trong dài hạn
huật ngữ “ lập trình “ chỉ ra khái niệm rằng các yếu tố kích thích vào 1 giai đoạn nhạy cảm sẽ để lại tác động lâu dài lên cấu trúc và chức năng của cơ thể sống. l
ập trình có thể xảy ra như là 1 kết quả của những dấu hiệu bên trong hay những yếu tố từ môi trường bên ngoài bao gồm hoocmon và thuốc. McCance là người đầu tiên thực hiện thí nghiệm trên động vật, chỉ ra rằng dinh dưỡng sớm cũng có thể để lại tác động lâu dài lên quá trình lập trình. Từ nghiên cứu của ông này cách đây 40 năm, đã có rất nhiều nghiên cứu trên động vật cho thấy dinh dưỡng sớm có thể tác động lên cơ thể khi trưởng thành như là hậu quả về mỡ máu, cao huyết áp, béo phì, chứng xơ vữa động mạch, hành vi, khả năng học hỏi và tuổi thọ.
