Muối là gia vị quen thuộc trong bữa ăn hàng ngày. Chưa kể, muối ăn cung cấp i-ốt, một vi chất rất cần thiết đối với sự phát triển khỏe mạnh của cơ thể. Thế nhưng, với các bé mới tập ăn, việc thêm muối vào đồ ăn dặm được cho là không cần thiết. Bởi lẽ, lượng muối có trong thực phẩm và sữa mẹ đã đủ đáp ứng nhu cầu của bé. Cho thêm muối vào đồ ăn sẽ gây ra tình trạng thừa muối. Trong khi đó, cơ thể trẻ sơ sinh còn rất non nớt và không thể nạp quá nhiều muối. Muối có thể giúp bé cải thiện vị giác nhưng sẽ để lại nhiều hậu quả như: tăng nguy cơ còi xương, suy thận, biếng ăn. Thêm vào đó, trẻ có thói quen ăn nhiều muối từ nhỏ, lớn lên sẽ quen khẩu vị, ăn mặn nhiều và làm tăng nguy cơ mắc bệnh huyết áp, suy thận, ung thư…


Cho đến nay, cuộc chiến “có nên cho thêm muối vào đồ ăn của con” chưa vẫn chưa dừng lại ở đó.


Trẻ ăn dặm cũng cần bổ sung muối???


Năm 2016, Chính phủ ban hành nghị định về việc bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm. Theo đó, tất cả các gia đình phải dùng muối ăn trong bữa ăn hàng ngày. Đây là cách bổ sung lượng i-ốt hiệu quả.


Ở bất kỳ giai đoạn nào, cơ thể cũng cần đáp ứng đủ lượng i-ốt, với các trẻ ăn dặm cũng thế. Muối là nguồn thực phẩm bổ sung i-ốt rất tốt cho cơ thể. Hơn nữa, muối vai trò quan trọng trong việc vận hành cơ thể, đảm bảo các hoạt động diễn ra suôn sẻ. Đây là gia vị không thể thiếu trong cuộc sống. Trong khi đó, cơ thể lại không thể tự sản xuất muối. Vì vậy, sự có mặt của muối trong bữa ăn dặm của trẻ là cần thiết.


Theo Th.s Lê Danh Tuyên, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia, việc cho muối ăn vào trong thực phẩm có ý nghĩa rất quan trọng và việc cho muối vào đồ ăn sẽ giúp cơ thể hấp thụ i-ốt tốt hơn. Điều này có nghĩa là trẻ ăn dặm vẫn cần muối. Tuy nhiên, tùy theo từng độ tuổi mà nhu cầu muối cũng khác nhau:


Trẻ dưới 6 tháng: Ít hơn 1g muối/ ngày và điều này có nghĩa lượng muối vô cùng ít và sữa mẹ hoàn toàn có thể đáp ứng.


Trẻ từ 6 tháng đến 1 tuổi: Khoảng 1g/ ngày. Nhu cầu này cũng rất nhỏ và muối trong thực phẩm đủ cung cấp nên không cần thiết phải nêm thêm muối vào bát cháo ăn dặm của trẻ.


Trẻ trên 1 tuổi: Khoảng 2g/ ngày. Số lượng này cho thấy nhu cầu muối của trẻ đã bắt đầu tăng và cần cho thêm một chút muối khi nêm nếm thức ăn cho trẻ.


Giảm dùng muối I-ốt, lo ngại gia tăng bướu cổ và trẻ đần độn


Thói quen ăn lạt, theo các chuyên gia sẽ tốt hơn ăn mặn vì nó giúp phòng tránh các bệnh lý như cao huyết áp, suy tim, suy thận, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não... Thế nhưng ăn quá nhạt hoặc thay thế vị mặn từ muối i-ốt bằng các loại gia vị khác như mắm, hạt nêm... cũng gây ra những hậu quả không nhỏ. Theo thống kê, tại Hà Nội, hiện nay thực trạng sử dụng muối i-ốt sụt giảm ở mức đáng báo động. Nếu như vào năm 2005, độ bao phủ của muối i-ốt gần 100% thì đến nay, chỉ còn gần 30%.


I-ốt là vi chất mà cơ thể không thể tổng hợp mà phải được bổ sung bằng các nguồn thực phẩm. Tuy nhiên, lượng i-ốt có trong các thực phẩm, đặc biệt là các thực phẩm nuôi trồng tự nhiên lại không đáng kể. Hơn nữa, chúng lại mất đi trong quá trình chế biến. Vậy nên, thói quen giảm dùng muối trong chế biến thay vào bằng nguồn thực phẩm thực sự không thể đáp ứng đủ nhu cầu i-ốt của cơ thể.


Theo một nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng, hiện nay chỉ có 6% dùng vị mặn từ muối i-ốt, có đến 75% người được khảo sát dùng vị mặn tự các sản phẩm chế biến như nước mắm, nước tương,... Đây là con số thực sự đáng báo động về tình trạng thiếu iot.


I-ốt là một trong các vi chất rất cần thiết trong cuộc sống hỗ trợ phát triển toàn diện. Một trong những lợi ích của việc bố sung đủ i-ốt là nâng cao trí tuệ, phát triển trí thông minh. Do vậy, việc giảm lượng muối ăn trong bữa ăn hàng ngày đồng nghĩa với việc giảm đi lượng i-ốt. Mặc dù nó là lượng vi chất rất nhỏ nhưng nếu thiếu có thể gây ra những hậu quả khó lường. Theo các chuyên gia, ngoài DHA, thiếu i-ốt là một nguyên nhân làm giảm trí thông minh ở trẻ. Bướu cổ và bệnh đận đồn là hai hệ lụy tất yếu của việc thiếu i-ốt. Ở phụ nữ mang thai, nếu thiếu i-ốt sẽ tăng tỷ lệ sẩy thai, sinh non.


Theo thống kê của WHO (năm 2005), độ bao phủ sử dụng i-ốt trên 90% dân số, tỷ lệ bướu cổ ở trẻ 8 -10 tuổi là 5%. Đến năm 2014, tất cả các chỉ số theo WHO đều trong tình trạng đáng báo động. Độ bao phủ sử dụng i-ốt là 69% dân số, thậm chí ở một số tỉnh là 50%, kèm theo đó tỷ lệ trẻ em bướu cổ trong độ tuổi 8 – 10 cũng tăng theo. Do vậy, việc phòng tránh bệnh do thiếu i-ốt là một vấn đề thách thức lớn đối với ngành Y tế.


Theo bà Đinh Thị Thu Thủy, Vụ Pháp chế, Bộ Y tế, nghiên cứu của Bộ Y tế, việc thiếu hụt i-ốt không biểu hiện nhanh chóng thường diễn tiến ầm thầm, bào mòn sự phát triển trí tuệ và gia tăng bệnh tật. Trong đó đối tượng bị ảnh hưởng nặng nhất là phụ nữ và trẻ em.


Với phụ nữ: Ngay từ giai đoạn thai kỳ, i-ốt là một trong các chất cần thiết đối với sự phát triển khỏe mạnh của thai nhi. Lượng i-ốt của thai hấp thụ vào cơ thể phụ thuộc vào người mẹ. Theo các chuyên gia, 12 tuần đầu, i-ốt là chất cần thiết để giúp thai nhi tổng hợp hormone để đảm bảo hoạt động sống. Thiếu i-ốt là một trong những nguy cơ tăng nguy cơ sẩy thai, thai chết lưu, trẻ sinh ra bị thiểu năng trí tuệ, bướu cổ.


Với trẻ em: Ở các độ tuổi khác nhau, thiếu i-ốt có thể gây nên bệnh bướu cổ kèm theo các biến chứng, thiểu năng giáp, suy giảm khả năng lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển khỏe mạnh.


Như vậy, bất kỳ độ tuổi nào cũng cần muối để phòng tránh tình trạng thiếu i-ốt, quan trọng là cần ở mức độ nào. Với trẻ trong độ tuội ăn dặm cũng thế nhưng không đồng nghĩa là phải cho thêm muối vào bát cháo nếu các thực phẩm kết hợp cung cấp đủ lượng muối cần thiết với nhu cầu của trẻ theo từng giai đoạn. Giảm muối, thiếu i-ốt là nguyên nhân dẫn đến nhiều hậu quả khôn lường đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Vậy nên, để phòng tránh, mẹ cần theo dõi và điều chỉnh lượng muối trong bữa ăn một cách hợp lý nhất, không thừa cũng không thiếu và nêm muối vào đúng giai đoạn bổ sung cần thiết nhé!