*** *** ****
Trong hơn nửa thế kỷ qua, thế giới đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào xã hội mang tính “giải phóng” – bao gồm nữ quyền, bình đẳng chủng tộc, LGBTQ+ và gần đây là phong trào được gọi chung dưới nhãn “WOKE”. Mục tiêu cốt lõi của những phong trào này là hướng đến công bằng, nhân phẩm và cơ hội bình đẳng cho mọi người. Ở góc độ bề mặt thì có thể thấy những phong trào này rất nhân văn và cao thượng, tuy nhiên, rất có thể mục đích thực sự đằng sau vốn thúc đẩy các phong trào này lại không hề đơn giản như vậy.
Thực tế, chính gia tộc Rockefeller – biểu tượng của giới tài phiệt Mỹ – đã tài trợ cho phong trào nữ quyền hay các phong trào như WOKE trên bề mặt xã hội họ quảng bá phong trào này giúp hỗ trợ phụ nữ yếu thế tạo ra sự bình đẳng giới, nhưng đó chỉ để che mặt và lừa dụ; Thực chất, họ nhiệt tình tài trợ phong trào này với hai mục đích:
- Thứ nhất, đưa phụ nữ vào lực lượng lao động để có thể thu thuế từ cả hai giới (đây cũng là một trong những mục đích của giới tài phiệt, nhằm tối đa hóa lợi nhuận thu được từ lao động nữ);
- Thứ hai, phá vỡ mô hình gia đình truyền thống nhằm dễ kiểm soát xã hội hơn. Vì khi cả đàn ông và đàn bà phải đi ra ngoài kiếm việc làm thì tất yếu họ sẽ phải gửi con cái đến trường học từ sớm, và dần dần con cái sẽ coi trường học và chính quyền là gia đình chứ không mấy có sự gắn kết với bố mẹ nữa.
Cũng từ đó mà chính quyền sẽ dễ tẩy não trẻ em, ép chúng phải học theo định hướng để sau này khi ra xã hội sẽ dễ sai bảo hơn, từ đó mà tạo ra các thế hệ người dân bị “nhồi sọ” thành nô lệ tự hiến dâng sức lực cho các tổ chức tài phiệt đứng sau hệ thống chính quyền.
Tức là về bản chất, phong trào nữ quyền có mục đích chính đó là: Nô lệ hóa người dân. Bề mặt thì tưởng rằng phong trào này đang vì lợi ích của phụ nữ, nhưng nếu xét kỹ hơn, thì đó lại là hình thức vắt kiệt sức lao động và tẩy não phụ nữ có chiến lược.
Chính phong trào nữ quyền trên thực tế cũng tạo thêm áp lực cho phụ nữ. Khi hình mẫu “người phụ nữ hiện đại” được định nghĩa là phải thành công, độc lập, vừa có sự nghiệp, vừa có gia đình hoàn hảo, nhiều người rơi vào cảm giác kiệt sức và mâu thuẫn vai trò. Nhà tâm lý học Sheryl Sandberg thừa nhận rằng lý tưởng “phụ nữ có thể làm mọi thứ” vừa là động lực, vừa là gánh nặng, vì nó tạo ra tiêu chuẩn gần như bất khả thi cho nhiều phụ nữ trong đời thực.
Đây chính là chiến lược chia để trị nhằm kích động mâu thuẫn giữa nam và nữ, hiện tượng này dẫn đến sự xuất hiện của cái gọi là “misandry” – tâm lý thù ghét hoặc hạ thấp nam giới. Các nhà xã hội học như Christina Hoff Sommers gọi đây là “feminism of resentment” – nữ quyền của sự phẫn nộ, thay vì nữ quyền của tự do.
Hệ quả là trong nhiều bối cảnh truyền thông và chính trị, thay vì thúc đẩy hợp tác giới, phong trào bị nhìn nhận như một cuộc chiến giữa hai giới tính. Điều này vô tình tạo nên phản ứng ngược từ phía nam giới, dẫn đến sự trỗi dậy của các phong trào đối kháng như “men’s rights movement” hay “red pill community” – làm xã hội thêm phân cực về giới thay vì dung hòa.
Những thế lực tài phiệt ở sau hậu trường sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các nội dung truyền thông, các bài viết nhằm trầm trọng hóa, nghiêm trọng hóa về bất công trong vấn nạn bạo lực gia đình, chỉ trích lối sống gia đình truyền thống là cổ hủ lạc hậu, kích động mâu thuẫn giữa nam và nữ, lợi dụng phong trào bình đẳng giới mà phóng đại “chủ nghĩa cá nhân” hay “sự hưởng thụ dục vọng cho bản thân” của phụ nữ, từ đó làm mờ đi giá trị truyền thống văn hóa đạo đức lễ nghĩa. Bởi khi con người không còn rào cản của lễ nghĩa đạo đức, thì họ sẽ như “con thú xổng chuồng” mặc sức càn quấy chỉ để thỏa mãn thú vui dục vọng dưới danh nghĩa “tự do”, “giải phóng”.
Thúc đẩy bình đẳng giới, nữ quyền thì cũng là thúc đẩy cho phụ nữ phải tham gia lao động để đóng thuế, ngoài việc bị vắt kiệt sức lao động, thì do hoàn cảnh phải tiếp xúc nhiều với người khác giới hàng ngày tại môi trường làm việc cũng tạo ra nhiều hệ lụy. Khi phụ nữ gặp stress do áp lực công việc, cộng thêm với sự thiếu kết nối giữa vợ chồng (do cả hai đều phải lao ra ngoài lao động), đi kèm với việc bị truyền thông tẩy não phóng đại sự ích kỷ “thỏa mãn dục vọng” nên từ đó mà tỷ lệ phạm tội tà dâm như ngoại tình, ly hôn, tình một đêm thậm chí cả đồng tính (nữ - nữ) v..v ngày càng gia tăng.
Lúc này, họ có thể ly hôn chỉ đơn giản vì thấy “không hợp”, “không vừa mắt”, “khó chịu”, “không tinh tế” – tức là cứ không thỏa mãn cái tôi hay dục vọng của họ là họ ly hôn, chứ không còn chủ động kết nối để cảm thông cho nhau và nỗ lực xây dựng tình nghĩa vợ chồng.
Hậu quả rất dễ nhận thấy hiện nay đó là các nước có phong trào nữ quyền phát triển mạnh (như Bắc Âu, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc) đều đang chứng kiến tỷ lệ kết hôn và sinh con sụt giảm đáng kể. Tất nhiên, điều này không hoàn toàn chỉ do nữ quyền, nhưng phong trào đã góp phần làm lệch lạc nhận thức về hôn nhân và vai trò làm mẹ cũng như phóng đại ham muốn dục vọng ẩn sâu để vượt qua ranh giới đạo đức của phụ nữ. Khi phụ nữ ưu tiên sự nghiệp và giải phóng tự do vị kỷ hưởng thụ của cá nhân, mô hình “gia đình truyền thống” trở nên kém hấp dẫn và thậm chí là gánh nặng. Hậu quả là sự khủng hoảng nhân khẩu học ở nhiều quốc gia phát triển, kéo theo áp lực kinh tế – xã hội lâu dài.
Phong trào nữ quyền từng cổ vũ phụ nữ thoát khỏi ràng buộc về ngoại hình, rằng phụ nữ cần “làm đẹp cho chính mình”. Nhưng trong xã hội tiêu dùng, điều đó bị lợi dụng để giới tài phiệt kiếm lợi nhuận từ việc thị trường hóa. Các thương hiệu, mạng xã hội, và nền công nghiệp thẩm mỹ biến “sự tự do làm đẹp” thành nghĩa vụ phải đẹp. Nếu xưa phụ nữ bị ràng buộc qua lễ giáo, thì nay họ bị ràng buộc bởi ám ảnh thị trường kiểm soát qua hình ảnh, lượt like, và tiêu chuẩn sắc đẹp “nữ quyền hóa”. Khi phụ nữ giành được quyền lực công khai, xã hội đã tìm ra cách trói buộc họ trong nhà tù của thân thể chính mình. Phụ nữ tưởng rằng họ đang tự do, nhưng kỳ thực là đang bị giới tài phiệt vắt kiệt sức lao động, tận thu lợi nhuận qua việc phải liên tục mua sắm để làm đẹp.
Phong trào nữ quyền đã dần dần bị lộ ra mục đích thực sự của giới tài phiệt đứng sau: bị tư bản “chiếm đoạt” để phục vụ mục tiêu lợi nhuận.
• “Phụ nữ độc lập” trở thành nhóm khách hàng lý tưởng: mua xe riêng, đồ hiệu, mỹ phẩm, căn hộ, dịch vụ chăm sóc sức khỏe…
• Mỗi khẩu hiệu nữ quyền lại trở thành chiến dịch quảng cáo (Vì bạn xứng đáng, vì bạn đẹp nên bạn có quyền).
• Và “nữ quyền” dần được gói lại trong ý tưởng tiêu dùng: “Bạn mạnh mẽ nếu bạn mua đúng sản phẩm.”
Đây là nô lệ hóa bằng ý niệm tự do — một dạng “tự nguyện phục tùng”, chiến lược ở đây là “khen và nịnh”, tâng bốc phụ nữ cho họ lên mây xanh rồi dắt mũi họ dần dần để biến họ thành nô lệ tự nguyện cho giới tài phiệt vắt kiệt, và mỉa mai thay, lại dưới danh nghĩa “giải phóng tự do”, “bình đẳng”.
Một trong những khía cạnh đáng chú ý nữa đó là sự nam tính hóa của phụ nữ trong môi trường hiện đại. Để được công nhận trong xã hội, phụ nữ phải hấp thu những đặc tính vốn được xem là “nam tính”: lý trí, quyết đoán, mạnh mẽ, lạnh lùng và sẵn sàng cạnh tranh. Họ học cách đè nén cảm xúc, đặt mục tiêu lên trên cảm tính, và định nghĩa giá trị bản thân qua địa vị, thu nhập và quyền lực.
Kết quả là, người phụ nữ hiện đại trở thành hình ảnh phản chiếu của người đàn ông trong xã hội công nghiệp hóa – kiên cường nhưng cô đơn, thành đạt nhưng kiệt sức. Nhà triết học Hàn Quốc Byung-Chul Han gọi đây là “xã hội kiệt sức”: nơi cả hai giới đều trở thành nạn nhân của cùng một lý tưởng hiệu suất. Phụ nữ, trong khi giành được tự do, lại đánh mất sự kết nối với bản chất mềm mại, cảm xúc và trực giác – những giá trị từng được xem là linh hồn của nữ tính.
Phụ nữ được quyền như đàn ông, nhưng lại phải sống theo tiêu chuẩn của đàn ông, phải chịu áp lực như đàn ông – và đó là hình thức nô lệ hóa tinh vi nhất: nô lệ trong ảo tưởng tự do. Phong trào Nữ quyền tuy nói rằng đã giải phóng phụ nữ khỏi sự áp bức bên ngoài, nhưng đồng thời đẩy họ vào những áp lực bên trong – áp lực của sự kỳ vọng, của hình mẫu, và của chính lý tưởng bình đẳng mà họ theo đuổi.
Do đó, phong trào nữ quyền có thực sự vì nữ quyền? Hay nó chỉ là vỏ bọc tinh xảo che đậy cho chiến lược nô lệ hóa và bóc lột phụ nữ ngày càng thậm tệ hơn?

