Vài nét phát thảo
về việc đổi mới căn bản, toàn diện của giáo dục và đào tạo bao gồm:
Tại sao phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam?
Trước hết cần nhận thức sâu sắc tính cách mạng và khoa học của quá trình đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. Đây không phải là những sửa đổi, điều chỉnh nhỏ, đơn lẻ, cục bộ, mang tính bề mặt. Đây là quá trình đổi mới “đụng” tới tầng sâu bản chất của hệ thống giáo dục, làm thay đổi căn bản về chất của hệ thống giáo dục, để đưa hệ thống giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn, chất lượng hơn.
Đổi mới căn bản được hiểu là đổi mới những vấn đề cốt lõi nhất để làm thay đổi và nâng cao về chất của hệ thống giáo dục, nhằm đáp ứng với đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn mới, đó là:
- Đổi mới tư duy, nhận thức, triết lý về giáo dục, về sứ mạng của giáo dục.
- Đổi mới quan điểm phát triển giáo dục.
- Đổi mới mục tiêu giáo dục.
- Đổi mới và lành mạnh hóa môi trường giáo dục.
- Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục.
- Đổi mới cơ chế phát triển giáo dục.
- Đổi mới động lực - nguồn lực phát triển giáo dục.
- Đổi mới tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình đổi mới giáo dục.
Đổi mới toàn diện nền giáo dục được hiểu là đổi mới về tất cả các mặt, các thành tố chính tạo thành hệ thống giáo dục và các quá trình giáo dục như:
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc gia.
- Đổi mới ở tất cả các cấp, bậc học, các hình thức giáo dục, đào tạo.
- Đổi mới đồng bộ về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo.
- Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên.
- Đổi mới và nâng cao chế độ đãi ngộ - tôn vinh gắn liền với nâng cao chế độ trách nhiệm xã hội của các nhà giáo.
- Đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật của các cơ sở giáo dục, đào tạo.
- Đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục, đào tạo.
- Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục.
Vậy muốn đổi mới căn bản và toàn diện ta cần phải hình thành đồng bộ và lành mạnh hóa môi trường giáo dục gồm môi trường nhà trường, môi trường gia đình và môi trường xã hội.
Nội dung đổi mới căn bản và nội dung đổi mới toàn diện gắn bó mật thiết với nhau; phải trên cơ sở làm rõ các “nội dung căn bản” để cụ thể hoá cho các “nội dung toàn diện”. Bởi vì một nền giáo dục “học một lần cho làm việc cả đời” khác căn bản với nền giáo dục “học cả đời để luôn thích ứng công việc và cuộc sống”, lại càng khác hơn so với nền giáo dục trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức; nền giáo dục được bao cấp hoàn toàn khác với nền giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Phương hướng cơ bản của quá trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đã được nêu trên là:“chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế”. “Ngũ hoá” đó là những yêu cầu cơ bản đặt ra cho quá trình đổi mới nền giáo dục. Mỗi “hoá” đó chứa đựng những tiêu chí mới đối với nền giáo dục (ở đây chưa đề cập chi tiết). Nhưng tổng hợp lại sẽ tạo nên một nền giáo dục năng động-hiệu quả-chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới và phù hợp với xu thế của thời đại.
Những nội dung của đổi mới căn bản và toàn diện gắn với định hướng đổi mới cơ bản nêu trên cần phải được nghiên cứu sâu, đồng bộ, có sức thuyết phục cả về cơ sở lý luận khoa học và cơ sở thực tiễn trên bình diện chung đối với cả nền giáo dục-cả hệ thống giáo dục, đồng thời cụ thể sâu cho mỗi phân hệ, mỗi cấp bậc học, hình thức giáo dục, thậm chí cho mỗi môn học.
Trong quá trình đổi mới giáo dục này, cần phải đặt lên hàng đầu đổi mới tư duy-nhận thức-triết lý giáo dục, đổi mới quan điểm và mục tiêu giáo dục, vì đây là những vấn đề có tính “mở đường”, “định hướng” cho quá trình đổi mới giáo dục. Nếu không làm rõ những vấn đề này mà lại bắt tay vào thực hiện ngay những vấn đề cụ thể khi chưa có đủ cơ sở khoa học và thực tiễn, thiếu quan điểm hệ thống, sẽ khó có được kết quả tốt đẹp. Xin nêu một ví dụ cụ thể: vấn đề giảm tải chương trình giáo dục phổ thông. Giảm tải chương trình giáo dục phổ thông không chỉ đơn giản là giảm khối lượng và độ khó kiến thức (như Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo là loại bỏ những phần trùng lặp, những phần được cho là quá khó, dù đây là việc cần thiết); mà bao trùm hơn là cần xác định rõ mục tiêu giáo dục phổ thông có cần đổi mới không? Tương quan giữa giáo dục nhân cách, cung cấp kiến thức và giáo dục kỹ năng có cần thay đổi không? Thay đổi như thế nào? Tỷ lệ và tương quan ba mặt giáo dục đó ở các cấp Tiểu học có cần thay đổi không? Thay đổi như thế nào? Mục tiêu, nội dung và khối lượng của mỗi môn học trong tổng thể mục tiêu chung của giáo dục phổ thông và trong mỗi cấp học đó như thế nào? Dạy-học mang tính liên môn như vậy được chăng?Nên có nhiều bộ sách giáo khoa hay không và việc biên soạn chúng như thế nào? Rõ ràng các vấn đề được nêu trên không đạt được những mục tiêu quan trọng hơn đối với giáo dục phổ thông.
Cũng về đổi mới nội dung chương trình giáo dục phổ thông, có những ý kiến của cán bộ quản lý giáo dục cho là sẽ phải chuyển từ “học sinh học được những kiến thức gì” (định hướng nội dung) sang học ra để làm được gì (định hướng sử dụng). Phải chăng đây là cách đổi mới đúng? Cách tiếp cận đúng? Đúng là nội dung học phổ thông phải thiết thực, song điều đó không có ý nghĩa là nội dung chương trình giáo dục phổ thông mang nặng tính ứng dụng cụ thể để học sinh học rồi ra “làm việc”. Rõ ràng đây không phải là mục tiêu cao nhất, bao trùm nhất, phù hợp nhất của giáo dục phổ thông. Khi không xác định rõ mục tiêu đúng đắn và phù hợp, lại thiếu cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn, những giải pháp cụ thể có thể sẽ dẫn đến lầm lạc, từ sai lầm này có thể lại sang sai lầm khác.
Với cách tiếp cận trên, có thể thấy rằng, công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục không thể thành công nếu thiếu nghiên cứu thấu đáo, có hệ thống cả về cơ sở lý luận - khoa học và cơ sở thực tiễn, thiếu sự chỉ đạo nhất quán.
Bởi vì,chỉ có đổi mới căn bản và toàn diện mới giúp cho thế trẻ -chủ nhân đất nước vừa có tài vừa có đức góp phần đưa đất nước Việt Nam sánh ngang với khu vực và thế giới.Mọi người nhận thấy việc đổi mới này là đổi mới căn bản và toàn diện,nó đòi hỏi tất cả yếu tố cấu thành nền giáo dục và đào tạo phải trãi qua một cuộc đại phẫu.Đồng thời đối tượng ở đây là người quản lý cũng như người dạy-học phải năng động và sáng tạo,khả năng liên kết và giải quyết các vấn đề,đề xuất các ý tưởng độc đáo,các kỹ năng giao tiếp,làm việc trong môi trường chuyên biệt,sử dụng thành thạo vi tính,ngoại ngữ,..sẽ quan trọng không kém gì các kỹ năng cơ bản là đọc,viết.có thể hiểu,việc đổi mới này không chỉ là hình thức mà cái cốt lõi bên trong là người giáo viên cần đổi mới về phương pháp giảng dạy và học.nó đòi hỏi mỗi người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học tích cực-Lấy học sinh làm trung tâm.Nghĩa là giáo viên đến lớp đặt HS vào môi trường có vấn đề,môi trường này tác động đến HS làm cho HS gặp khó khăn,ở tư thế mất cân bằng hay nói khác đi đã xuất hiện tương tác giữa HS với môi trường.từ kiến thức riêng của HS,người giáo viên tác động đến giúp HS có tri thức cần học.Tất cả phải có sự kết nối với nhau giửa các thành tố cấu thành nên giáo dục và đào tạo.Tất cả kiến thức và kỹ năng như hình dung trên tạo thành các kỹ năng trí tuệ của HS trong thế kỷ 21.Nếu không có cuộc đổi mới này thì người dạy-học sẽ không bổ sung thêm thức một cách chủ động và sáng tạo trong dạy-học.tôi cho rằng nhất thiết phải đổi mới tư duy trong dạy-học vì có thể hiểu:có kỹ năng tư duy tốt là điều kiện tiên quyết giúp HS giành các cơ hội trong học tập ,việc làm,được nhận và trọng đại trong thế giới ngày nay.Nói đúng hơn là người học sẽ có điều kiện tốt hơn để thành công.

