Các mẹ thân mến!


Để nuôi con khỏe và dạy con ngoan là điều bất kỳ người mẹ nào cũng mong muốn. Nhưng không chỉ có dinh dưỡng thôi đâu các mẹ ah. Việc quan tâm phát triển chỉ số Emotional Interlligence (chỉ số trí tuệ cảm xúc )cũng rất quan trọng.


Vậy, các bậc làm cha mẹ phải làm gì để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và cảm xúc?


MeQuangBill có một số tham khảo gửi các mẹ cùng xem nhé!


EMOTIONAL INTELLIGENCE ( TRÍ TUỆ CẢM XÚC)


Khi đáng giá về trí thông minh, người ta thường sử dụng khái niệm Intelligence Quotient, viết tắt là IQ (Chỉ số trí tuệ). Nói chung, đây là khả năng nhận thức và hiểu biết của con người đối với những sự việc chung quanh dựa vào lô-gíc và lý luận.


Tuy nhiên, IQ chỉ có tính cách cá nhân, lấy tri thức (cognition) làm chính và không đánh giá được hết khả năng trí tuệ thật sự vì con người còn nhiều khía cạnh phi-tri thức (non-cognitive) khác mà trong đó cảm xúc là một phần quan trọng nhất.


Có những người có chỉ số IQ rất cao nhưng chưa hẳn là người thông minh vì không biết kiềm chế tình cảm riêng tư và để tình cảm lấn át lý trí làm hỏng đi công việc đang thực hiện. Có những người khác, IQ có thể không cao nhưng lại có khả năng lãnh đạo vì biết sử dụng tình cảm để lôi cuốn và gây hứng cho những người chung quanh, thực hiện tốt những công tác được giao. Những người này thuộc vào dạng người có chỉ số Emotional Intelligence EI cao.


Steve McShane và Mary Ann Von Glinow (2005) định nghĩa Trí tuệ cảm xúc là “khả năng của con người có thể nhận thức và phát biểu cảm xúc, đồng hoá cảm xúc trong tư tưởng, thông suốt và lý luận với cảm xúc và điều hợp cảm xúc cho bản thân và những người chung quanh. (The ability to perceive and express emotion, assimilate emotion in thought, understand and reason with emotion, and regulate emotion in oneself -and others).” (tr.15).


Trí tuệ cảm xúc có thể được đo lường bằng những bài kiểm tra cho ra những con số gọi là Chỉ số trí tuệ cảm xúc (Emotional Intelligence Quotient).


Nguồn gốc sâu xa của khái niệm trí tuệ cảm xúc theo Tây Phương có thể bắt nguồn từ thời Darwin (1872-1965) với những công trình khảo cứu về thuyết sinh tồn và tiến hóa của sinh vật, trong đó có nhắc đến khả năng của con người tiền sử biết sử dụng cảm xúc để thích nghi với môi trường chung quanh.


Sau đó thì những công trình nghiên cứu chủ yếu nói về IQ, cho đến năm 1990 thì Salovey và Mayer mới chính thức công bố nghiên cứu của họ về Trí tuệ cảm xúc.


Năm 1998, Daniel Goleman xuất bản cuốn sách “Làm việc với Trí tuệ cảm xúc (Working with Emotional Intelligence)” và gây một tiếng vang lớn trong các giới học thuật và quản trị kinh doanh toàn thế giới vì đã đưa được khái niệm này thành một vấn đề dễ hiểu, dễ áp dụng trong mọi sinh hoạt thường ngày. Daniel Goleman hệ thống hoá Trí tuệ cảm xúc thành 4 lãnh vực từ thấp đến cao là:


1/ Tự nhận thức (self-awareness).


Nói về khả năng hiểu biết sâu xa về các cảm xúc cũng như những điểm mạnh, điểm yếu, những giá trị và động cơ của bản thân. Những người biết tự nhận thức cao có khả năng nắm bắt tình cảm của mình và nhận thức ra điều đúng cho mình.


2/ Tự quản lý (self-management).


Lãnh vực này nói về khả năng tự kiểm chế và chuyển hướng những tình cảm nội tại, những cơn bốc đồng, những ý tưởng tốt cũng như xấu xảy ra trong nội tâm để hành động đúng đắn nhất dựa vào những giá trị đạo đức đã được mọi người công nhận. Khả năng tự quản lý cao sẽ khiến con người hành động công minh chính trực, biết nắm bắt cơ hội và giữ được tính lạc quan, cho dù bị thất bại vẫn không nàn lòng. Khả năng tự quản lý đòi hỏi một sự đối thoại thường xuyên với nội tâm.


3/ Nhận thức xã hội (social-awareness).


Sự nhận thức xã hội chủ yếu là lòng thấu cảm (empathy)- sự hiểu biết sâu xa và thông cảm với những tâm tư tình cảm và hòan cảnh của những người chung quanh. Sự thấu cảm được hiểu như lòng vị tha và là khả năng cảm thông được tình cảm và nhu cầu của xã hội. Áp dụng trong lãnh vực quản trị kinh doanh, người có sự nhận thức xã hội cao thường thành công trong việc nắm bắt thị hiếu của khách hàng cũng như thấu hiểu được sự vận hành của các hệ thống xã hội, chính trị và kinh tế.


4/ Quản lý về quan hệ (relationship management).


Là khả năng cao nhất của Trí tuệ cảm xúc, có thể điều khiển và hướng dẫn cảm xúc của đám đông. Những người giỏi quản lý về quan hệ có khả năng truyền cảm hứng, tác động đến tâm tư tình cảm và niềm tin của người khác. Ngoài ra còn có thể điều khiển và lãnh đạo mọi người thực hiện xuất sắc những công tác chung.


Mỗi một cá nhân đều có đủ 4 lãnh vực Trí tuệ cảm xúc này với những mức độ khác nhau tùy thuộc vào môi trường sống với những tấm gương chung quanh, sự giáo dục của gia đình và học đường, cũng như những giá trị đang được xã hội công nhận. Tác động của văn hóa thông tin cũng đóng góp một phần quan trọng trong sự hình thành trí tuệ cảm xúc.


Các tác giả đều công nhận cả 4 lãnh vực trên đều có sự tương quan mật thiết với nhau và sở dĩ khả năng quản lý về quan hệ được đặt cao nhất vì cần phải hội tụ đủ 3 lãnh vực kia. Cũng vậy, khả năng tự nhận thức được đặt thấp nhất vì không cần thiết đến 3 yếu tố kia.


Hiện nay khái niệm Trí tuệ cảm xúc được giảng dạy tại hầu hết các trường đại học tại Mỹ và một số trường trung học có áp dụng những chương trình ngoài học đường về Trí tuệ cảm xúc đã gặp hái một số thành công đáng khích lệ nhờ làm giảm được tính bạo động và hung hăng của thanh thiếu niên, giúp cải thiện về thành tích học tập cũng như giúp các em thích nghi tốt hơn với môi trường học đường cũng như công ăn việc làm sau này.


Đối chiếu với Đông phương, chúng ta nhận thấy có sự tương đồng phần nào, tuy không thật đầy đủ, với những tư tưởng đã có từ thời Chiến Quốc bên Trung Hoa với câu nói của Tôn Tử: "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng." Trong tục ngữ Việt Nam có câu: "Suy bụng ta, ra bụng người " phần nào cũng có liên quan đến khái niệm trí tuệ cảm xúc.


(sưu tầm).