Năm 2023, những gia đình ở Việt Nam vẫn rất mong muốn cho con em đi du học. Các bậc phụ huynh Việt Nam luôn hướng tới việc du học ở các quốc gia nói tiếng Anh, bởi vì sinh sống và học tập ở những đất nước đó sẽ giúp nâng cao trình độ tiếng Anh mà từ đó sẽ trở thành lợi thế cho các bạn du học sinh khi phỏng vấn xin việc. Tuy nhiên, khi sức ảnh hưởng của phương Tây giảm đi và nền kinh tế toàn cầu dần chuyển dịch nhiều hơn về phía Đông, thì phạm vi lựa chọn điểm đến du học dành cho các sinh viên Việt Nam được mở rộng.

Lấy ví dụ hai nước Hàn Quốc và Nhật Bản, đây là hai quốc gia hiện nay đang có số lượng du học sinh Việt Nam nhiều nhất trên tổng số sinh viên tuyển sinh (Tức là theo bậc và ngành học, kể cả việc học ngoại ngữ) Theo đại diện của Capstone Education có trụ sở tại Việt Nam, Hàn Quốc là quốc gia đứng đầu (Tuyển sinh 66.000 sinh viên Việt Nam trong năm 2022), đứng thứ 2 là Nhật Bản với hơn 49.000 trong năm 2021 (tương đồng với số liệu do Study in Japan cung cấp). Tuy nhiên, Viện Phát triển giáo dục Hàn Quốc (KEDI) chỉ ghi nhận được 37.490 sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc vào năm 2022; theo số liệu của KEDI, Nhật Bản là điểm đến hàng đầu, tiếp theo là Hàn Quốc.
Bên cạnh đó, các điểm đến du học hàng đầu của sinh viên Việt Nam bao gồm:
- Hoa Kỳ: 29.742 (năm 2022 theo SEVIS)
- Úc: 21.315 (theo số liệu mới nhất của chính phủ Úc được tham khảo vào tháng 6 năm 2023)
- Đài Loan: 20.000 (Theo số liệu của chính phủ Đài Loan năm 2022)
- Canada: 16.140 (năm 2022)
- New Zealand: 13.475 (theo bộ giáo dục New Zealand năm 2022)
- China: 12.000 (năm 2020 và 2021 theo chính phủ Trung Quốc)
- Singapore, Đức, Vương quốc Anh, Pháp, Phần Lan, Ireland, và Hà Lan cũng là nơi tiếp nhận số lượng lớn sinh viên Việt Nam.
Việt Nam lọt top 10 thị trường nguồn sinh viên tại các nước:
- Úc: Hạng 5
- Canada: Hạng 8
- Nhật Bản: Hạng 2
- New Zealand: Hạng 4
- Hàn Quốc: Hạng 2
- Hoa Kỳ: Hạng 6 tổng thể, Hạng 5 K-12, Hạng 2 đối với Cao đẳng cộng đồng
- Đài Loan: Hạng 1
Dữ liệu mới nhất của UNESCO trong năm 2020 đã cho thấy có 132.560 học sinh Việt Nam đăng ký học Đại học ở nước ngoài. Tuy nhiên, sinh viên Việt Nam vẫn đóng góp vào nhiều chương trình đào tạo khác bao gồm K-12, các khóa học ngắn hạn, khóa học nghề, và ngoại ngữ.
Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam cho biết có khoảng 190.000 học sinh Việt Nam đang học tập tại nước ngoài trong năm học 2019-2020, trong khi đó, các quốc gia nguồn khác có hơn 200.000 du học sinh.

Nhìn vào số lượng tuyển sinh, hay câu chuyện Việt Nam nằm trong top 10 các quốc gia có học sinh đi du học nhiều nhất tại nhiều nơi trên thế giới, cùng với hàng trăm ngàn người Việt Nam đang học tập ở nước ngoài. Với những số liệu trên đã ghi nhận được cho đến nay đã giải thích rõ ràng lý do Việt Nam trở thành điểm nóng thu hút các trường từ tất cả các khu vực trên thế giới đến tuyển sinh.
Nhưng không chỉ như vậy, hãy xem xét các chỉ số nhân khẩu học dưới đây:
- Hơn 1/4 (28%) dân số Việt Nam nằm giữa độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi và hệ thống giáo dục Đại học đang gặp khó khăn về vấn đề khả năng tiếp nhận sinh viên.
- Hơn 20 triệu người Việt có độ tuổi từ 5 đến 19 tuổi.
- Theo INTO: “Việt Nam có tầng lớp trung lưu phát triển nhanh nhất khu vực Đông Nam Á… và tỉ lệ nhập học Đại học tăng từ 10% vào năm 2001 đến 29% năm 2019”.
Yếu tố thúc đẩy là do đâu?
Giáo dục là một mối bận tâm lớn nhất đối với nhiều gia đình Việt Nam. Năm 2018, ngân hàng HSBC xác định khoản chi trả cho giáo dục chiếm 47% tổng chi tiêu của các hộ gia đình trên cả nước. Vietnam News, trang nhật báo tiếng Anh của Việt Nam đưa ra quan điểm về mối bận tâm quốc gia đối với giáo dục như sau: “Nhiều gia đình Việt Nam vẫn duy trì truyền thống lâu đời đó là tiết kiệm chi tiêu cho mọi lĩnh vực khác ngoại trừ giáo dục.”
Nhưng những gia đình Việt Nam từ lâu đã lo lắng cho sự nghiệp học tập của con em họ, người ta nói rằng gia đình càng nghèo thì họ càng quyết tâm cho con đi du học.
Tình trạng thiếu giáo viên là một vấn đề nghiêm trọng ở nhiều thành phố, vùng miền và cũng khiến các hộ gia đình ở vùng quê rất khổ sở để được học tập đàng hoàng. Như biểu đồ dưới đây của UNICEF cho thấy, tỉ lệ hoàn thành bậc Trung học phổ thông thay đổi đáng kể tùy theo từng vùng miền và mức thu nhập.
Mọi gia đình đều khao khát để con họ thoát khỏi cảnh nghèo và thất nghiệp. Nền kinh tế phi chính thức tại Việt Nam (hay “nền kinh tế bóng” bao gồm các công việc mà không phải chịu thuế hoặc bị quản lý bởi chính phủ) chiếm 20,5% GDP và trong những năm gần đây thì nền kinh tế xám đang tăng trưởng ngược lại với xu hướng giảm như ở các quốc gia khác.
Đồng thời, Việt Nam đang rất phát triển dựa trên nhiều tiêu chí đánh giá kèm theo có nhiều tầng lớp trung lưu hơn đồng nghĩa với việc ngày càng có nhiều gia đình có thể chi trả cho con họ đi du học. Báo cáo từ Ngân hàng Thế giới:
Những cải cách kinh tế khi bắt đầu đổi mới trong năm 1986, đi kèm với xu hướng toàn cầu có lợi đã giúp đưa Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành nước có nền kinh tế với thu nhập trung bình chỉ trong một thế hệ.
Một vài thành tựu được Ngân hàng thế giới ghi nhận:
Từ năm 2002 đến 2021, GDP bình quân đầu người tăng 3.6 lần, đạt gần 3.700 USD.
Tỉ lệ nghèo (3,65 USD/ ngày, 2017 PPP) giảm từ 14% trong năm 2010 xuống còn 3.8% năm 2020.
Thời gian học tập trung bình tại trường học ở Việt Nam là 10.2 năm, xếp thứ 2 sau Singapore trong hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á.
Trong năm 2023, việc gia tăng học phí sẽ khiến cho cả hộ nghèo lẫn giàu ở Việt Nam sẽ phải cân nhắc đến lựa chọn hấp dẫn hơn như là đi du học. Chính phủ công bố ý định tăng học phí trong năm 2022/23 “Để đáp ứng mong muốn nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tốt hơn”, tuy nhiên “nhiều địa phương phải cho phép hoãn, hoặc thậm chí miễn học phí giáo dục phổ thông cho năm học 2022 – 2023.” bởi vì cũng cần lưu ý đến ảnh hưởng của COVID tới tài chính của nhiều hộ gia đình.
Nhu cầu du học K-12 tăng lên
Có lẽ yếu tố lớn nhất thúc đẩy các gia đình giàu có ở Việt Nam có con đang học trung học là vì mức học phí của các trường quốc tế ở đây: lên tới 34.700 USD một năm. Khi được phỏng vấn cho một bài báo vào năm 2022 trên cổng thông tin nổi tiếng VNExpress, trả lời của nhiều phụ huynh đã bày tỏ mức độ thất vọng sâu sắc của gia đình họ về vấn đề này:
“Thậm chí trường Havard nổi tiếng cũng chỉ yêu cầu học phí là 54.000 USD cho một năm. Chắc phải dở hơi lắm họ mới cho con mình học ở các trường đó. Tiền có thể mua được nhiều thứ, nhưng không bao giờ mua được trí thông minh.”
“Thật phí tiền, còn tệ hơn nữa khi phải dùng tiền túi của bản thân. Kinh nghiệm của tôi khi cho con đến học tại các trường quốc tế (hợp tác doanh nghiệp) thì những chỗ đó toàn là lừa đảo. Nhiều giáo viên ở những ngôi trường này không có trình độ để giảng dạy và cứ sau một vài năm họ lại tiếp tục đi đến các đất nước khác. Nếu bạn dư tiền thì nên cho con bạn được thực sự học tập tại những trường hàng đầu tại nước ngoài. Những ngôi trường quốc tế này đều chỉ là mánh khóe tiếp thị nhắm đến bậc cha mẹ giàu có tìm cách khoe khoang quyền lực hoặc con của họ không đủ khả năng cạnh tranh ở các trường địa phương. Con của bạn sẽ chẳng tốt hơn được nếu học tập ở những ngôi trường này đâu.”
Mức học phí cao của các trường quốc tế đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ trở thành thị trường tuyển sinh dồi dào cho những trường K-12 ở nước ngoài. Một khảo sát IDP thực hiện năm 2022 cho thấy mặc dù các chương trình đại học vẫn là lựa chọn phổ biến cho sinh viên Việt Nam, thì sự tập trung phát triển vào cấp độ giáo dục Trung học vẫn là nhanh nhất.
Các tổ chức giáo dục quốc tế tuyển sinh hàng ngàn người Việt.
Một cuộc khảo sát năm 2023 do Acumen (Thuộc tập đoàn Sannam S4) thực hiện, với 1.000 người tham gia bao gồm những phụ huynh có thu nhập cao, và học sinh sinh viên độ tuổi 8-22, cho thấy 85% cha mẹ sẵn sàng cho con mình tham gia Chương trình Giáo dục Quốc tế Hợp tác (TNE) (Con số này tăng lên với từng thành phố lớn so với các vùng khác). Gần một nửa (48%) cho biết họ muốn con họ học tập ở nước ngoài hay tham gia vào chương trình TNE hơn so với 34% người lựa chọn thích để con mình học tập trong nước hơn.
Một nửa số phụ huynh sẵn sàng chi trả 8.400 USD một năm cho chương trình TNE ở Việt Nam.
Acumen đã cung cấp thông tin chi tiết về quy mô hoạt động của TNE tại Việt Nam.
“Có hơn 400 chương trình liên kết được phê duyệt giữa các tổ chức Việt Nam và quốc tế cùng với 5 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài (Gồm RMIT và Đại học Anh Quốc Việt Nam). Ít nhất 15.000 sinh viên hiện đang học chương trình Úc ở Việt Nam, trong đó cũng có nhiều chương trình của các nước Anh, Mỹ, New Zealand.

Tiềm năng thị trường học trực tuyến là rất lớn.
Việt Nam nằm trong top 10 thị trường phát triển nhanh nhất về học tập trực tuyến (20% từ 2019-2023), thị trường này được định giá 3 tỷ USD vào năm 2021, tăng từ 2 tỷ USD vào năm 2021. InCorp Việt Nam báo cáo rằng “Việt Nam là nới tiếp đón 200 công ty khởi nghiệp EdTech và cũng nằm trong số năm quốc gia nhận được đầu tư nước ngoài vào công nghệ giáo dục.”
Theo ông Nguyễn Thành Nam, người sáng lập Đại học trực tuyến FPT (FUNiX): “Việt Nam và các quốc gia như Ấn Độ, Philippines và Mexico, trước áp lực dân số lớn, đều không còn lựa chọn nào khác ngoài học tập trực tuyến để theo kịp với trình độ giáo dục ở các nước phát triển.”
Nhu cầu học tiếng Anh đang nhiều hơn bao giờ hết.
Theo EF Education First, về trình độ tiếng Anh, Việt Nam xếp hạng thứ 60 trên 111 quốc gia. Năm trước, Chính phủ Việt Nam đã tổ chức một buổi học tiếng Anh bắt buộc dành cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 12 và yêu cầu: “Tất cả các trường Trung học, Cao Đẳng và Đại học phải có ít nhất một câu lạc bộ ngoại ngữ và hội nhập quốc tế vào năm 2030.”
Nhưng những gia đình ở Việt Nam không thể đợi hệ thống giáo dục bắt kịp với yêu cầu tiếng Anh của các nhà tuyển dụng, vì vậy chương trình ELT ở nước ngoài vẫn phổ biến hơn bao giờ hết.
Gen Z Việt quyết định du học như thế nào?
Theo một nghiên cứu của INTO thực hiện vào năm 2022 trên 1.000 học sinh Gen Z và 500 phụ huynh ở Việt Nam, những ưu tiên hàng đầu của học sinh khi cân nhắc học Đại học tại nước ngoài là cải thiện kỹ năng tiếng Anh và nâng cao cơ hội nghề nghiệp. Những phát hiện khác:
- 4 trong 5 học sinh cho biết cha mẹ là những người ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định đi du học của họ.
- Mối quan tâm lớn nhất của phụ huynh là về chi phí và sự an toàn.
- Nội dung trực tuyến là nguồn thông tin quan trọng nhất, tiếp đến là thảo luận với đại diện của trường Đại học và cố vấn của trường.
- Hơn 9 trên 10 người tham gia nghiên cứu nhấn mạnh rằng những người đại diện của trường ngoài hình thức trực tuyến cũng cần phải trao đổi trực tiếp.
Các nước nói tiếng Anh là những điểm đến phổ biến mà Gen Z Việt cân nhắc, nhưng có hơn một nửa trong số họ cũng xem xét đến bằng cấp từ các trường Đại học ở châu Á là một trong 3 lựa chọn hàng đầu của họ.
Những ưu tiên hàng đầu khi lựa chọn điểm đến du học là (1) Có được trải nghiệm và cơ hội tiếp xúc phù hợp với lĩnh vực mà tôi đang theo đuổi, (2) Chất lượng giáo dục phải tốt hơn so với ở Việt Nam, (3) Cơ hội làm việc cho sinh viên quốc tế sau khi đã có được bằng cấp. Khả năng vừa làm vừa học xếp thứ 4 về tầm quan trọng.

