Bệnh viêm kết mạc - giác mạc do andenovirus gây ra, thường lây lan nhanh trong cộng đồng nhất là trong mùa mưa lũ, khi điều kiện vệ sinh không bảo đảm... Tuy nhiên, nếu biết cách phòng tránh chúng ta có thể hạn chế sự lây lan của bệnh.


Đau mắt dịch là thế nào?


Đau mắt dịch tên đầy đủ là viêm kết mạc - giác mạc do adenovirus. Bệnh chiếm từ 5-15% tổng số bệnh nhân đau mắt đỏ nói chung. Cái tên đau mắt dịch cũng đã nói lên phần nào tính chất của căn bệnh này, đó là bệnh thường có xu hướng lây lan gây ra những vụ dịch. Bệnh thường lây lan giữa các cá nhân trong gia đình, cộng đồng nơi sinh sống và nơi công sở.


Nơi xuất phát của bệnh nhiều khi lại là môi trường y tế, nơi giao lưu giữa người bệnh và người lành, giữa bệnh nhân và người làm công tác y tế. Có nhiều người than phiền rằng: “Nhìn thấy một bà đau mắt ở bệnh viện, thế là về nhà bị lây luôn”. Thực ra không dễ dàng như vậy, cho dù đường lây truyền của virut khá phong phú: tiếp xúc trực tiếp qua da như bắt tay, quan hệ tình dục, tiếp xúc với đồ vật đã bị nhiễm mầm bệnh (tay nắm cửa ra vào, dụng cụ sinh hoạt...), dùng chung nguồn nước (đi bơi), hiếm hơn là qua đường không khí.


Thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 8 ngày. Điều này giải thích tại sao một gia đình có 3 người, nếu lây nhiễm chéo cho nhau thì có thể kéo dài sau 2 tháng. Khi phân lập virut người ta thấy có chừng vài chục týp virut khác nhau, trong đó những týp phổ biến hơn cả là týp 8, 19 và 37.


Bệnh cảnh lâm sàng của thể bệnh nhẹ


Các cụ thường nói: “Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Ai trong đời đã trải qua một lần đau mắt đỏ đều thấm thía câu nói này. Cái cảm giác: cộm rát như có cát ở trong mắt, dử mắt bám chặt mi buổi sáng, lèm nhèm suốt cả ngày, nặng hơn có thể nhìn mờ và sợ ánh sáng. Cùng với biểu hiện tại mắt là biểu hiện toàn thân của nhiễm virut: mệt nhẹ, sốt, đau họng, nổi hạch tai hoặc hạch dưới hàm.


Bệnh thường xảy ra bất thình lình, dữ dằn lúc khởi phát. Lúc đầu thường là một mắt, thường sau 4-5 ngày sẽ lan sang mắt thứ 2. Tuy nhiên, độ khó chịu, mức độ nặng nhẹ giữa hai mắt có thể khác nhau. Đây là một yếu tố khá quan trọng cho việc chẩn đoán chính xác bởi gần như bệnh luôn xảy ra trên hai mắt, cho dù triệu chứng bệnh của mắt thứ 2 có thể thoáng qua.


Khi thăm khám thì kết mạc bị phù nề, cương máu đỏ rực và có hột khá điển hình. Hột thường gặp nhiều ở kết mạc mi dưới. Những thể bệnh nặng hơn có thể thấy giả mạc dạng fibrin ở kết mạc cùng đồ phía dưới mà di chứng sau này là cầu dính mi - nhãn cầu. Việc không thể thiếu là kiểm tra hạch trước tai, đây là đáp ứng miễn dịch trước sự tấn công của virut.


Bệnh cảnh lâm sàng của thể bệnh có biến chứng


Về phía người bệnh thường cảm thấy nhìn mờ hơn mọi khi, chói rát khi gặp ánh sáng mạnh, chảy nước mắt liên tục. Điều này báo hiệu bệnh đã lan vào lòng đen - giác mạc.


Giai đoạn tổn hại trong biểu mô giác mạc, tiên phát: Gần như luôn gắn liền với căn bệnh này, có khi chỉ là thoáng qua. Nhưng tựu trung, dạng tổn thương này kéo dài trong khoảng 2 tuần. Đầu tiên chỉ là các chấm bắt màu fluorescéine nhẹ. Về sau có thể các chấm tổn thương này sẽ liên kết với nhau tạo thành những đảo loét biểu mô thực sự, bắt màu fluorescéine mạnh.


Giai đoạn tổn hại dưới biểu mô: Thường biểu hiện sau tuần thứ hai, chiếm tần suất 1/2 trường hợp. Đó là các thẩm lậu dưới biểu mô với số lượng khác nhau, có thể từ vài đám đến vài chục đám. Việc thăm khám dưới kính phóng đại, cắt đèn khe sẽ khẳng định điều này. Tại đỉnh của mỗi đám thẩm lậu có thể quan sát thấy vùng tổn hại biểu mô - bắt màu fluorescéine tương ứng. Các đám thẩm lậu này nếu ở trục nhìn sẽ gây nhìn mờ và những khó chịu khác.


Số lượng, mật độ, vị trí của những đám thẩm lậu này biến đổi rất nhanh chóng, trái với bệnh viêm giác mạc Thygesons, các tổn thương thường rất ít biến đổi và rất khu trú. Nghiên cứu về phương diện tổ chức học của những đám thẩm lậu này người ta thấy có các đám kháng thể kháng virut, các lympho và các sợi bào. Phản ứng viêm này bị khu trú giữa lớp biểu mô và lớp màng bowman.


Giai đoạn di chứng: Chỉ chiếm 10% các trường hợp đau mắt dịch. Đó là việc giảm thị lực do các đám thẩm lậu đã nói ở trên quy tụ thành một đám đục trên giác mạc vĩnh viễn hoặc gây loạn thị không đều. Để giải quyết di chứng này phần lớn phải nhờ vào phẫu thuật.


(Còn nữa)


Theo Bs. Hoàng Cương


Sức khỏe và Đời sống