Xét nghiệm công thức máu là phương pháp xét nghiệm được sử dụng nhiều nhất đối với huyết học và y khoa bởi công dụng và sự tiện lợi mà nó đem lại. Khi cầm kết quả xét nghiệm của con trên tay, ắt hẳn các mẹ đều chưa hiểu hết về ý nghĩa của nó. Vì thế, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
1. Khi nào trẻ cần làm xét nghiệm công thức máu
Máu đóng một vai trò quan trọng trong cơ thể. Máu vận chuyển khí oxy và chất dinh dưỡng theo dòng tuần hoàn cung cấp đến cho từng tế bào. Đồng thời nhận lại khí cacbonic và các sản phẩm thải ra do chuyển hóa nội ngoại bào. Ngoài ra, máu còn có chức năng miễn dịch và đông máu.
Xét nghiệm công thức máu là khảo sát các loại tế bào máu về số lượng, kích thước, hình thái của hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Việc xét nghiệm công thức máu giúp bác sĩ xác định những vấn đề liên quan đến huyết học của sức khỏe bệnh nhân. Bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em, cần làm xét nghiệm khi:
- Xuất hiện các triệu chứng mệt mỏi, sốt, bầm tím, sút cân.
- Trẻ bị mất máu (xác định lượng máu đã mất)
- Trẻ bị đa hồng cầu (chẩn đoán xác định)
- Trẻ bị nhiễm trùng hoặc thiếu máu.
- Trẻ bị các bệnh về máu.
- Kiểm tra phản ứng của cơ thể với một số loại thuốc hoặc điều trị bức xạ để đưa ra phương pháp điều trị thích hợp khi mắc bệnh.
- Kiểm tra những ảnh hưởng của hiện tượng máu chảy bất thường ảnh hưởng đến các tế bào máu và số lượng.
- Kiểm tra số lượng các tế bào thành phần máu.
- Kiểm tra tình trạng thể chất của trẻ.
2. Các chỉ số cơ bản trong xét nghiệm công thức máu và ý nghĩa của nó
Khi con bạn cần xét nghiệm công thức máu, việc có thêm nhiều hiểu biết về các chỉ số cơ bản hi vọng có thể giúp ích phần nào cho mẹ.
2.1. Hồng cầu – RBC
Hồng cầu được tạo ra từ tủy xương. Với chức năng chính là vận chuyển oxy từ phổi đến các mô nhờ vai trò của hemoglobin.
Số lượng hồng cầu thay đổi theo tuổi, cụ thể:
- Sơ sinh đủ tháng khi chào đời có số lượng HC 4.5 – 6×1012/l, sau đó hồng cầu giảm nhanh vì hồng cầu vỡ do vàng da sinh lí.
- Khi trẻ được 6 – 12 tháng tuổi số lượng hồng cầu 3.5 x 1012/l, giai đoạn thiếu máu nhẹ do thiếu yếu tố tạo máu.
- Trẻ trên 2 tuổi, số lượng hồng cầu ổn định 4 x 1012 /l.
- Số lượng hồng cầu tăng trong bệnh tim mạch, bệnh đa hồng cầu, tình trạng mất nước.
- Giảm trong thiếu máu, sốt rét, lupus ban đỏ, suy tủy, mất máu…
Dưới đây là các chỉ số liên quan đến hồng cầu
Hematocrit – HCT
Hematocrit là tỉ lệ thể tích hồng cầu trong thể tích máu toàn phần.
Bình thường, chỉ số này ở trẻ sơ sinh là 56%, ở trẻ 1 tuổi 35%.
- Hematocrit tăng trong bệnh phổi, bệnh tim mạch, mất nước, chứng tăng hồng cầu.
- Giảm trong trường mất máu, thiếu máu, xuất huyết.
Hemoglobin – HBG
Hemoglobin hay còn gọi là huyết sắc tố là phân tử protein có trong hồng cầu, có khả năng vận chuyển oxy và tạo sắc tố đỏ cho hồng cầu.
Chỉ số bình thường: Lúc mới sinh trẻ có 170 -190g/L, sau đó giảm dần, đặc biệt lúc trẻ 6 – 12 tháng tuổi, huyết sắc tố giảm còn 96- 110 g/L. Trên 2 tuổi, huyết sắc tố tăng dần rồi ổn định 120 – 140 g/l.
Giá trị này thường tăng trong mất nước, bệnh tim mạch, bỏng hoặc giảm trong thiếu máu, xuất huyết, tán huyết.

