NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ HEN PHẾ QUẢN
BS.TS. HOÀNG XUÂN BA
Mặc dù được chú trọng nghiên cứu và coi là mảnh đất màu mỡ để phát triển thị trường thuốc điều trị từ hơn 20 năm qua, bệnh hen phế quản (HPQ) đã và ngày càng trở lên phức tạp cho việc chẩn đoán và điều trị. Hướng nghiên cứu chỉ tập trung vào cơ chế miễn dịch và cách điều trị đối phó với triệu chứng có thể là nguyên nhân của những hạn chế hiện nay trong việc khống chế căn bệnh này.
Trong số tháng 12, 2008 củatạp chí chuyên về các bệnh hô hấp: European Respiratory Journal, nhóm chuyên viên ở Châu Âu đứng đầu bởi giáo sư Stephen Holgate đã nêu lên những khó khăn và vấn đề cần phải giải quyết cấp bách liên quan tới bệnh hen phế quản (HPQ): hiểu biết về nguyên nhân bệnh, chẩn đoán, điều trị, thử nghiệm lâm sàng và các vấn đề môi trường. Các nỗ lực nghiên cứu và điều trị ngày càng tốn kém vẫn không làm giảm số lượng người mắc bệnh và giúp tránh được tử vong cho khoảng 180.000 bệnh nhân bị HPQ trên toàn cầu trong đó có nhiều ngườitrẻ tuổi là công dân của các nước với nền y học tiên tiến nhất.
Cũng theo các nghiên cứu được công bố tại Bắc Mỹ và Châu Âu, đã có khoảng hơn 30% trường hợp chẩn đoán nhầm các bệnh khác thành bệnh HPQ và con số bệnh nhân không kiểm soát được hoàn toàn triệu chứng của bệnh cùng với chất lượng cuộc sống giảm sút do bệnh vẫn còn ở mức 40%-55%.
Một bức xúc lớn với người bệnh và các bác sỹ điều trị là hiệu quả phụ của tất cả các thuốc điều trị phòng ngừa và cắt cơn đều khá phổ biến, trong nhiều trường hợp, các thuốc điều trị đã được phát hiện là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong cũng như làm bệnh nặng hơn. Đầu tháng 12, 2008, trên trang chủ của FDA (cơ quan quản lý dược phẩm của Hoa Kỳ), hai thẩm định viên cao cấp của tổ chức này đã đưa ra lời cảnh báo bệnh nhân HPQ sẽ có nguy cơ tử vong cao hơn nếu họ tiếp tục sử dụng 4 loại thuốc có hoạt chất làm giãn phế quản tác dụng dài hạn, được chỉ định rộng rãi cho bệnh nhân hen phế quản, đó là: Advair, Symbicort, Serevent và Foradil. Kết luận này được đưa ra trên số liệu tổng hợp từ 110 nghiên cứu lâm sàng với hơn 60.000 bệnh nhân tham dự.
Hai chuyên viên thuộc bộ phận an toàn dược phẩm còn nhấn mạnh trên mạng của FDA: bệnh nhân mọi lứa tuổi không nên dùng các thuốc trên và đặc biệt là những người dưới 17 tuổi. Trước đây, một số nghiên cứu ở Mỹ, Canada, Úc và Châu Âu đã chỉ ra sự liên quan trực tiếp của các thuốc điều trị hen phế quản tương tự như các thuốc kể trên với các cơn suyễn kịch phát và các trường hợp đột tử ở người bệnh, nhưng những nhà quản lý và các hãng bào chế thường hướng dư luận theo chiều: kết quả này còn được bàn cãi và cần có thời gian để nghiên cứu thêm. Một nghiên cứu tại Mỹ bởi các bác sỹ tại đại học Stanford còn cho thấy: trong số 5.000 trường hợp tử vong vì hen phế quản tại Mỹ, có tới 25% trường hợp là do thuốc điều trị gây ra.
Lợi nhuận của thuốc điều trị hen phế quản là con số khổng lồ. Chỉ riêng Advair đã có doanh số khoảng 7 tỷ đô la Mỹ và sẽ đạt mức 8 tỷ đô la Mỹ trong năm nay. Từ năm 1994, khi Serevent được chấp thuận sử dụng, các báo cáo liên quan đến tử vong do thuốc đã được gửi về FDA, nhưng hãng bào chế Glaxo đã dùng các chuyên gia y khoa hàng đầu tại các trường đại học lớn để phủ định mối liên quan này. Chỉ tới năm 2003, Glaxo mới chịu tài trợ cho nghiên cứu về sự an toàn của Serevent và kết quả của nghiên cứu này đã chỉ ra điều họ cho là vô lý trong gần 10 năm: bệnh nhân sử dụng Serevent đã chết nhiều hơn so với người xịt loại thuốc trong đó không có mọi loại thuốc nào (placebo).
Nhóm dược phẩm có corticosteroid dạng bơm xịt cũng như uống đã bị nhiều bác sỹ ngộ nhận là thần dược cho phòng và điều trị HPQ. Thế nhưng theo những nghiên cứu được công bố ở Mỹ và Châu Âu, nhiều bệnh nhân đã không có được kết quả điều trị bởi các thuốc corticosteroid. Ở trẻ em, theo một nghiên cứu ở Mỹ, có tới hơn một nửa bệnh nhi đã không có được tiến bộ nào về triệu chứng, chức năng hô hấp sau 8 tuần sử dụng fluticasone hoặc montelucast (thuốc chống viêm thế hệ mới). Với người lớn,một nghiên cứu khác cho thấy có tới hơn 30% trường hợp bệnh nhân không có sự tiến bộ nào mặc dù được dùng các thuốc tương tự đều đặn (the Journal of Allergy Clinical Immunology số 115, 2005 và số 109, 2002).
Việc tăng liều sử dụng các thuốc chống viêm, đặc biệt là nhóm có Corticosteroid mỗi khi thấy bệnh nhân không đáp ứng với thuốc đã làm hại họ,vì thuốc làm suy yếu hệ miễn dịch, dẫn đến tăng khả năng nhiễm trùng đường hô hấp do vi khuẩn, siêu vi trùng và nấm cùng với nhiều hiệu quả phụ khác. Theo một thống kê của các bác sỹ thuộc đại học John Hopskin, Mỹ các số liệu từ 11 khảo cứu lâm sàng đã cho thấy thuốc corticosteroid dạng xịt đã làm tăng 34% các trường hợp mắc viêm phổi ở bệnh nhân tắc nghẽn phổi so với nhóm không dùng loại thuốc này.
Những thực trạng và thực tế nêu trên nhắc chúng ta không nên tiếp tục quan điểm bệnh nhân hen suyễn ai cũng giống ai, cũng như tuyệt đối tin tưởng vào những phác đồ chữa bệnh hen suyễn, bất luận nó được đưa ra bởi tổ chức y tế thế giới nào. Và không phải hễ các phác đồ đó không có kết quả là do người bệnh không tuân thủ chỉ định của bác sỹ. Cho đến hôm nay, tại các hội nghị, hội thảo với những chuyên gia hàng đầu thế giới tham dự, những bàn cãi gay gắt và những bất đồng lớn vẫn là phổ biến trong việc: chẩn đoán, phòng và điều trị HPQ. Để nhấn mạnh về những khó khăn và hạn chế của y khoa hiện nay trong việc hiểu và điều trị bệnh hen suyễn, hội đồng biên tập của tạp chí Y khoa- Lancet, đã đăng bài với tiêu đề: hen phế quản- Câu hỏi vẫn nhiều hơn câu trả lời (Lancet số 372, tháng 9,2008). Các tác giả đã nêu ra 3 vấn đề cơ bản chưa được làm sáng tỏ cho tới ngày nay:
1 Hen suyễn là gì?
2 Những người nào có thể mắc bệnh hen suyễn và vì sao?
3 Những yếu tố nào làm bệnh phát triển nặng lên và làm thế nào để tiên lượng được kết quả điều trị?
Các tác giả đã kết luận: “Hen suyễn, một bệnh mãn tính rất phổ biến vẫn còn là một bí ẩn với y học ngày nay”.
Bệnh hen suyễn rõ ràng không chỉ do cơ chế di truyền và phản ứng của hệ miễn dịch. Các yếu tố dinh dưỡng, môi trường, lối sống, tâm lý, tâm thần và chức năng của các cơ quan khác trong cơ thể như hệ thần kinh, nội tiết, gan… đã có vai trò rất quan trọng trong nguyên nhân, cơ chế và tiến triển của bệnh. Trong điều trị, ứng dụng các phương pháp dinh dưỡng, luyện tập thể lực và các bài tập thở, thư giãn, tâm lý liệu pháp, thực phẩm chức năng và các phương pháp điều trị bằng y học cổ truyền với phương châm: “trước hết phải không làm hại người bệnh” sẽ có thể mang lại kết quả tốt hơn cho người bệnh.