Đây là câu hỏi đã làm đau đầu biết bao nhà nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp (THA) cũng như các thầy thuốc và bệnh nhân.
Muốn dự báo thì phải biết nguyên nhân phát sinh bệnh, thế nhưng cứ 100 ca bệnh THA thì có đến 95 ca không biết rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, qua hàng thế kỷ nghiên cứu, các nhà khoa học đã phát hiện ra những yếu tố có nguy cơ dẫn đến THA, và khi đã bị THA thì những yếu tố kết hợp nào có nguy cơ làm phát sinh hoặc nặng thêm các biến chứng cho các cơ quan nội tạng như tim (gây nhồi máu cơ tim, suy động mạch vành, suy tim v.v...), não (tai biến mạch não thoáng qua, xuất huyết não v.v...), thận (suy thận...), động mạch các chi (cơn đau cách hồi) hay mắt (xuất huyết võng mạc...).
Các yếu tố nguy cơ gây THA và dự báo THA:
- Các yếu tố dinh dưỡng.
- Rượu.
- Tần số tim cao.
- Các tác động tâm lý - xã hội, stress.
- Môi trường sống ô nhiễm.
Ngoài ra, người ta còn nghiên cứu về 3 yếu tố nữa, đó là:
1. Các yếu tố gen: Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy người đa gen (polygenic) hay bị THA hơn.
2. Môi trường bất lợi xảy ra trong một số thời điểm phát triển của thai nhi và tuổi thơ ấu có thể gây khả năng bị THA.
3. Đáp ứng huyết áp tăng cao của trẻ em với hoạt động thể lực có thể dự báo bệnh THA trong tương lai.
Chúng ta hãy phân tích sâu thêm về các yếu tố nêu trên.
Di truyền: Tiền sử gia đình, nếu có người lớn, nhất là người có quan hệ trực hệ (như bố, mẹ, anh chị em ruột bị THA), sẽ là một trong các nguy cơ cao nhất làm cho một đối tượng có thể bị THA trong tương lai.
Mặt khác, con người ở một nhóm HA nhất định thường giữ nhóm đó lâu dài. Thí dụ: nghiên cứu của Tecumseh cho thấy những người ở tuổi tứ tuần (40-50 tuổi) bị THA thường đã có HA ở nhóm cao hơn người khác khi còn 7 tuổi.
Cân nặng cơ thể: Thường được đánh giá qua chỉ số khối lượng cơ thể (Body Mass Index = BMI). Cân nặng cơ thể có một mối tương quan tỷ lệ thuận và bền bỉ với huyết áp. Trung bình cứ tăng 10kg thì huyết áp tâm thu tăng 2-3 mmHg và huyết áp tâm trương tăng 1-3 mmHg. Người quá cân thì có nguy cơ bị THA tăng gấp 2-6 lần. Ở các nước phương Tây, 30-65% các ca THA là do béo phì.
Các yếu tố dinh dưỡng: bao gồm lượng hấp thu Clorua Natri, Kali và vài chất khác.
Clorua Natri (Muối): ăn quá nhiều so nhu cầu sinh lý (thể hiện qua việc định lượng Natri trong thức ăn hoặc định lượng Natri thải trừ ra nước tiểu hàng ngày) có thể làm tăng nguy cơ THA.
- Kali: nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, khi ăn càng nhiều Kali (làm tăng lượng Kali thải trừ trong nước tiểu) thì HA càng giảm: Kali nước tiểu tăng 60mmol/ngày thì huyết áp tâm thu giảm 2,7 mmHg.
Nhưng tỷ lệ Na/K còn tương quan chặt hơn: nếu tỷ lệ Na/K nước tiểu 24h giảm từ 3/1 xuống còn 1/1 thì huyết áp tâm thu sẽ giảm 3,2mmHg.
- Các chất dinh dưỡng khác như calci, ma-giê, kẽm, mỡ, acid béo, bột ngũ cốc, chất xơ, protein đều có thể có liên quan đến THA và đang còn trong thời kỳ nghiên cứu.
- Rượu: có mối tương quan rõ ràng với sự tăng lên của HA, kể cả tác dụng cấp tập hoặc lâu dài. Tuy số lượng rượu uống vào gây tác hại còn chưa rõ, nhưng người ta thấy nếu mỗi ngày uống vài ba lần, huyết áp tâm thu sẽ tăng 1,0mmHg và huyết áp tâm thu tăng 0,5mmHg cho mỗi lần uống.
- Hoạt động thể lực quá ít sẽ làm tăng nguy cơ THA lên 20-50% so với người cùng địa vị xã hội có hoạt động tốt hơn. Nếu hoạt động đều đặn ít nhất ở mức trung bình sẽ có lợi cả cho việc phòng bệnh và điều trị THA.
- Tần số tim ở người THA thường cao hơn người HA bình thường. Có lẽ điều đó phản ánh sự điều chỉnh hoạt động giao cảm cao lên một mức. Người ta đang nghiên cứu xem đây là mối quan hệ nhân quả hay chỉ đánh giá tiên lượng.
- Các yếu tố tâm lý - xã hội: chủ yếu là các stress tâm lý, khi xảy ra cấp tính thì làm HA tăng lên. Tuy nhiên, còn rất ít công trình chứng minh được rằng các kích xúc lâu dài có thể gây ra THA bền bỉ.
- Các yếu tố môi trường như tiếng ồn, bụi bẩn... cũng được coi như các yếu tố nguy cơ THA, tuy rằng cũng cần phải nghiên cứu thêm.
Có thể gọi các hoàn cảnh hay sự kiện trên là các yếu tố dự báo có thể bị THA. Nếu ta tìm cách tác động gạt bỏ hoặc cải thiện chúng thì có thể đẩy lùi nguy cơ bị THA rất nhiều, nhất là về môi trường sống, các chất dinh dưỡng, rượu, các stress gia đình và xã hội, lối sống và hoạt động thể lực
Có một số yếu tố như gen, di truyền hiện chúng ta không thể tác động lên được. Nhưng yếu tố tần số tim cao (cao thường xuyên trên 90 lần/1 phút) vẫn có thể dùng đều đặn một vài loại thuốc chẹn giao cảm beta như atenolol, metoprolol liều thấp để khống chế. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân có bị hen, viêm phế quản co thắt, mạch chậm, loét dạ dày đang tiến triển thì không dùng được các thuốc này.
Các yếu tố khi kết hợp với bệnh THA đã có sẵn sẽ có nguy cơ gây ra hoặc dự báo sẽ xảy ra hay làm nặng thêm các tổn thương ở tim, não, thận, mắt... Có thể tóm tắt trong bảng dưới đây:
Tổng các yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch.
1 Tuổi: trên 60 tuổi hoặc phụ nữ mãn kinh.
2 Giới tính: Nam hay bị hơn nữ.
3 Tiền sử gia đình có người bị bệnh tim mạch sớm: nam < 55 tuổi, nữ < 65 tuổi.
4 Hút thuốc lá.
5 Cholesterol toàn phần (TC) và Cholesterol tỷ trọng thấp (LDL-c) trong huyết thanh tăng cao trên mức bình thường.
6 Cholesterol tỷ trọng cao (HDL-c) giảm thấp hơn mức bình thường và có thể kèm triglycerides cao hơn bình thường.
7 Phì đại thất trái.
8 Bệnh đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tắc động mạch chi dưới (1).
9 Tai biến mạch não từ trước, bệnh võng mạc.
10 Tiểu đường không phụ thuộc insulin.
11 Bệnh thận.
12 Protein niệu vi thể.
13 Béo phì trung ương, cân nặng cơ thể quá cao và hội chứng chuyển hóa.
14 Lối sống ít vận động thể lực.
15 Từng điều trị tái tưới máu động mạch vành.
16 Suy tim.
Trước hết, nhận xét trong bảng, ta thấy có 3 yếu tố: tiền sử di truyền, béo phì, lối sống ít vận động trùng lắp với các yếu tố đã nói trên. Đó là vì chúng gây nguy cơ THA. Đến khi đã THA, chúng lại tiếp tục gây nguy cơ tai biến phủ tạng.
Lại có một số bệnh nhân đã bị bệnh hay biến chứng tim mạch như phì đại thất trái, bệnh đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, tắc động mạch chi dưới, tai biến mạch não, bệnh võng mạc, bệnh thận, từng điều trị tái tưới máu mạch vành như mổ tim làm cầu nối chủ-vante, nong và đặt giá đỡ (stent) chỗ hẹp động mạch vành, hoặc suy tim cũng là những yếu tố nguy cơ gây tái phát các biến chứng đó.
Ta cũng thấy có một số yếu tố nguy cơ mà hiện nay y học vẫn phải bó tay, không thể tác động lên được là tuổi và tiền sử gia đình.
Nhìn chung, các yếu tố trong bảng đều có thể dự báo các bệnh tim mạch không cần kết hợp với bệnh THA, mà ta quy định là HA tâm thu phải > 140mmHg và/hoặc HA tâm trương phải > 90mmHg (viết tắt là HA>140/90), nhưng trường hợp này tương đối hiếm và đa số bệnh nhân đều có HA cao. (Theo các con số trên). Trong đó một số lớn bệnh nhân chỉ THA nhẹ, nghĩa là HA tâm thu chỉ từ 140-160mmHg và/hoặc HA tâm trương chỉ từ 90-100mmHg, viết tắt là THA nhẹ = 140/90 < HA < 160/100. Cao hơn nữa gọi là THA vừa và nặng. Tuy nhiên dự báo tiên lượng nguy hiểm của mỗi ca bệnh còn phụ thuộc vào cách kết hợp các yếu tố trên với nhau.
Mặt khác, tính chất và độ lớn của các tai biến ở từng vùng địa lý có thể khác nhau; Thí dụ nếu ở các nước phương Tây, tai biến mạch vành hay xảy ra hơn thì ở Nga và các nước phương Đông (Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam...), tai biến mạch não lại hay xảy ra hơn.
Tóm lại, nếu tích cực tác động lên các yếu tố dự báo THA và các biến chứng của nó, ta sẽ phòng tránh được một cách đáng kể bệnh THA.