Người bị huyết áp cao dùng rễ nhàu sắc uống như nước trà hằng ngày, liệu trình điều trị 15 ngày sau đó dùng bớt liều, uống liên tục vài tháng thì huyết áp ổn định.



Tiến sĩ Võ Văn Chi, tác giả Từ điển Cây thuốc Việt Nam cho biết nhàu gọi l
à n
hàu lớn, nhàu núi hay nhàu rừng. T
ên khoa h
ọc l
à
Morinda citrifolia L. C
ây
thu
ộc h
ọ c
à phê Rubiaceae.



Nhàu mọc trong tự nhiên là loại cây nhỡ hay cây gỗ, hoàn toàn nhẵn. Lá hình bầu dục rộng, ít khi bầu dục thuôn, có góc ở gốc, có mũi nhọn ngắn, nhọn hoặc tù ở chóp, dài từ 12 đến 30 cm, rộng từ 6 đến 15 cm, bóng loáng, dạng màng. Hoa trắng, hợp thành đầu, đường kính từ 2 đến 4 cm. Quả nạc, gồm nhiều quả mọng nhỏ, màu vàng lục nhạt, bóng, dính với nhau. Hạt có phôi nhũ cứng.



Loài cây này mọc rải rác trong rừng thường xanh, gần mép nước. Nhàu cũng thường được trồng phổ biến ở Việt Nam v
à
Ấn Độ, Mianma, các nước nhiệt đới châu Á và
Australia
. C
ây r
a hoa gần như quanh năm.



Đ
ông y d
ùng r
, lá, quả và vỏ cây nhau
đ
ể l
àm thu
ốc
. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm. Rễ thường được sử dụng nhiều nhất b
ằng c
ách
phơi hay sấy khô, c
òn
các bộ phận khác dùng tươi. Rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng nhẹ và lâu dài, lợi tiểu nhẹ, làm êm dịu thần kinh trên thần kinh giao cảm, hạ huyết áp. Quả cũng có tính nhuận tràng và lợi tiểu. Lá có tác dụng tăng lực và hạ sốt, làm dịu và điều kinh.



Rễ được dùng chữa cao huyết áp, nhức mỏi tay chân và đau lưng, uốn ván. Dân thường dùng rễ để nhuộm đỏ vải, lụa. Lá nhàu chữa lỵ, ti
êu
chảy, cảm sốt và nấu canh ăn cho bổ. L
á
giã nát
đ
ể d
ùng ng
oài gi
úp
làm lành vết thương, gi
úp v
ế l
oét nhanh
chóng lên da non. Dịch lá được dùng đắp trị bệnh viêm khớp gây đau nhức. Vỏ nấu dành cho phụ nữ sau khi sinh uống bổ.



Quả nhàu chấm với muối ăn dễ tiêu hóa, ngoài ra còn dùng làm thuốc điều kinh, trị bang huyết, bạch đới. Quả nướng chín ăn chữa kiết lỵ, ho hen, cảm, tốt cho người bị bệnh tiểu đường và phù thũng. Liều rễ cây từ 30 đến 40 g, lá từ 8 đến 10 g.



Ph
ân t
ích th
ành ph
ần d
ư
ợc l
ý cho th
ấy r
ễ nhàu chứa glucosid, anthraquinon gọi là morindin có tinh thể màu vàng cam tan trong nước sôi. B
ên c
ạnh
đ
ó c
òn ch
ữa
hỗn hợp anthraglucosid như damnacantal, chất l-methoxy-rubiazin, morindon và l-oxy-2,3-dimetoxyanthraquinon. Lá cũng chứa morindin.



Tiến sĩ Võ Văn Chi giới thiệu một số bài thuốc hay từ cây nhàu như sau:



Huyết áp cao



Rễ nhàu từ 20 đến 40 g, sắc uống thay nước chè hằng ngày. Liệu trình trị 15 ngày, sau đó dùng bớt liều. Uống liên tục vài tháng thì huyết áp ổn định. Có thể ăn quả nhàu nướng và uống nước rễ nhàu.


Đ
au lưng, nhức mỏi chân tay


Dùng rễ nhàu hay quả non thái miếng, ngâm rượu uống dần, ngày uống một chén con.